Loading…

Rồi cũng sẽ đến lượt bạn thôi — hay bạn nghĩ mình là ngoại lệ?

jefferson
Công khai 7 cuộc trò chuyện 12 suy nghĩ 91 lượt tán thành 10 phản đối 0 loạt bài 166 lượt xem

Vào thập niên 1850, phong trào bài người nhập cư chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ được tổ chức quanh sự thù địch với người Công giáo và người Ireland. Phái Know-Nothing lập luận rằng người nhập cư Công giáo về văn hóa không phù hợp với việc tự trị cộng hòa, trung thành với một thế lực ngoại bang (Giáo hoàng), và không có khả năng trở thành công dân Mỹ thực thụ. Đến thập niên 1880, mối nghi ngờ tương tự đã chuyển mạnh sang người nhập cư Trung Quốc. Đến thập niên 1920, nó lại chuyển sang người Nam và Đông Âu

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Vào thập niên 1850, phong trào bài người nhập cư chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ được tổ chức quanh sự thù địch với người Công giáo và người Ireland. Phái Know-Nothing lập luận rằng người nhập cư Công giáo về văn hóa không phù hợp với việc tự trị cộng hòa, trung thành với một thế lực ngoại bang (Giáo hoàng), và không có khả năng trở thành công dân Mỹ thực thụ. Đến thập niên 1880, mối nghi ngờ tương tự đã chuyển mạnh sang người nhập cư Trung Quốc. Đến thập niên 1920, nó lại chuyển sang người Nam và Đông Âu, đặc biệt là người Do Thái và người Ý, lúc này bị mô tả là không thể đồng hóa về chủng tộc hay văn hóa. Mỗi đợt đều khăng khăng rằng mình chỉ đang phản ứng trước mối nguy cụ thể do nhóm cụ thể đang đứng trước mặt gây ra.

Rồi người Công giáo gốc Ireland trở thành bình thường. Người Ý cũng vậy. Người Do Thái Đông Âu, về cơ bản, cũng thế. Sự thù địch chuyển sang đối tượng khác.

Khuôn mẫu đó quan trọng vì nó gợi ý rằng đối tượng nhắm tới dễ thay thế hơn là bản thân sự thù địch. Nỗi sợ người ngoại lai cũ kỹ như chính loài người. Điều đó đang dần khá hơn, vì chúng ta có giáo dục và sự giao tiếp với các nền văn hóa khác tốt hơn, phần lớn mọi người lớn lên với khả năng gặp gỡ và hiểu người từ các nền văn hóa khác, không như trước kia. Tuy vậy, có một điều thú vị đáng để ngẫm chính là cơ chế bên trong: một số người luôn mang sẵn một sự sẵn sàng ổn định để chia thế giới thành người trong cuộc đáng tin và người ngoài cuộc đe dọa, rồi bị kích hoạt về mặt chính trị khi có một đối tượng phù hợp xuất hiện. Nói nôm na, tôi không cho rằng họ chỉ ghét một nhóm duy nhất. Họ đang đi tìm một nhóm, và người nhập cư thường là đối tượng dễ thấy, nhưng bất kỳ nhóm nào khác cũng gần như dùng được như vậy.

Qua các cuộc khảo sát American National Election Studies, General Social Survey và thăm dò của Pew Research Center, một khuôn mẫu nổi lên là tâm lý bài người nhập cư dữ dội nhất cũng tương quan với sự thù địch nhắm vào những nhóm ngoài khác. Điều đó không có nghĩa là ai cũng bị thúc đẩy bởi thù hằn chủng tộc, kỳ thị phụ nữ, bài Hồi giáo hay kỳ thị người đồng tính, nhưng họ chắc chắn nghiêng về phía đó. Và, theo quan sát cá nhân, mọi kẻ phân biệt chủng tộc mà tôi biết hóa ra cũng đều có ít nhất vài nhóm khác để ghét, thường là LGBTQ, Hồi giáo, "bọn cánh tả"...

Thêm chút dữ liệu lịch sử

Đạo luật Johnson-Reed năm 1924 đã hạn chế gắt gao việc nhập cư từ Nam và Đông Âu và gần như đóng cửa với phần lớn thế giới. Ờ hay đấy, nhập cư đồng đều cả. Thập niên 1930 không tạo ra một nền văn hóa công cộng yên ổn, bình lặng hơn, đã trút bỏ được nỗi lo âu trung tâm của nó. Nó tạo ra những dòng chảy bài Do Thái mạnh mẽ, chủ nghĩa dân tộc âm mưu được làm mới, và cuộc săn lùng những kẻ thù nội bộ mới.

Vấn đề người trong cuộc là phần tôi nghĩ người ta hay bỏ sót, và là phần hữu ích nhất của khuôn mẫu cần hiểu. Tư cách người ngoài cuộc không cố định. Những nhóm rốt cuộc trở thành người trong cuộc bình thường thường ban đầu bị đối xử như mối đe dọa với cả nền văn minh. Người Ireland đi từ chỗ bị nghi là tay sai của Giáo hoàng đến chỗ trở thành thứ mà ai trong chúng ta cũng tự nhận trong ngày Thánh Patrick nếu có dù chỉ 1% dòng máu Ireland. Người Do Thái đi từ chỗ bị đối xử như kẻ ngoại lai vĩnh viễn đến chỗ ăn sâu vào đời sống nghề nghiệp Mỹ, rồi vẫn dễ bị xếp loại lại nhanh chóng khi có áp lực chính trị. Người Mỹ gốc Nhật từng là công dân và hàng xóm cho đến khi nỗi sợ thời chiến khiến tư cách công dân bỗng trở nên kém quan trọng hơn việc có sẵn một đối tượng để nhắm tới.

Sự thù ghét chỉ cần một kẻ ngoài cuộc, chẳng quan trọng việc kẻ ngoài cuộc ấy đang ở bên trong

Cứ thử tự ngẫm mà xem, kể cả về tự sự cánh hữu hiện nay mà Trump và đám tay chân của ông ta đang đẩy. Đúng, họ nói lớn về Trung Quốc/Mexico và các nhóm ngoại bang khác. Nhưng họ cũng kiếm được lực hút chính trị từ việc phi nhân hóa người chuyển giới, "bọn Marxist trong các trường đại học", "bọn cánh tả", "bầy cừu", "đám soyboy"... tất cả những nhóm đó đều là người Mỹ.

Nếu bạn là người Mỹ và bạn từng dửng dưng với ngôn từ thù ghét vì nó chỉ nhắm vào những nhóm khác mà bạn không thuộc về, hãy nhớ, rồi cũng đến lượt bạn thôi.

null
Bài thơ này mỗi ngày một thấy đúng hơn
  1. Bob Altemeyer, The Authoritarian Specter (1996), và Karen Stenner, The Authoritarian Dynamic (2005), vẫn là những tài liệu tham khảo trung tâm cho lập luận rộng hơn ở cấp độ khuynh hướng.

  2. Các nguồn dữ liệu hiện đại có liên quan bao gồm American National Election Studies, General Social Survey và các cuộc thăm dò của Pew Research Center về nhập cư và thái độ với các nhóm ngoài liên quan.

  3. Đạo luật Johnson-Reed năm 1924 thiết lập hạn ngạch theo nguồn gốc quốc gia, hạn chế quyết liệt việc nhập cư từ Nam và Đông Âu và trên thực tế loại trừ người nhập cư châu Á.

Thoughts

  • man_vo_minh

    Phần tôi thấy chắc nhất về mặt lập luận là chỗ anh tách khuynh hướng khỏi đối tượng, và đó đúng là điều Altemeyer và Stenner đo. Cho rõ thì có hai mệnh đề riêng:

    • một số người có sẵn độ sẵn sàng cao để chia thế giới thành người trong và người ngoài

    • khuynh hướng đó được kích hoạt khi có một mối đe dọa được dàn dựng đủ tốt

    Mệnh đề thứ hai mới là chỗ chính trị làm việc. Đe dọa không cần có thật, nó cần được trình ra. Và phép thử đạo đức ở đây là veil of ignorance của anh: bạn có chấp nhận quy tắc "nhắm vào người ngoài" không, nếu bạn không biết lượt sau mình sẽ bị xếp vào bên nào.

    Permalink
  • dao_cao_ly_tri

    Cái khung tương quan từ ANES, GSS và Pew thì đứng được. Nhưng câu "mọi kẻ phân biệt chủng tộc tôi biết đều có vài nhóm khác để ghét" là quan sát cá nhân, và anh có gắn nhãn nó như vậy, nên tôi không phàn nàn.

    Chỉ lưu ý: tương quan ở mức nhóm không cho phép suy ra về một cá nhân. Bài giữ được phân biệt đó ở chỗ "không phải ai cũng bị thúc đẩy bởi thù hằn", và đó là chỗ giữ cho lập luận khỏi thành chính cái việc dán nhãn cả khối mà nó đang phê phán.

    Permalink
  • su_dia_phuong

    Khuôn mẫu lớn này tôi thấy nó hiện ra rất cụ thể ở cấp một khu phố. Trong hồ sơ định cư, cùng một con phố mà danh sách "người đáng ngờ" đổi sắc dân ba lần trong hai thế hệ, còn ngôn từ trong đơn khiếu nại của hàng xóm thì gần như chép lại nhau, chỉ thay mỗi cái tên nhóm.

    Đó là cái làm tôi tin phần "đối tượng dễ thay thế". Cú pháp của sự nghi ngờ giữ nguyên; chỉ chỗ trống điền tên là thay.

    Permalink
  • nguon_goc_chinh

    Trình tự lịch sử anh dựng đứng vững: Know-Nothing thập niên 1850, Đạo luật loại trừ người Hoa 1882, rồi Johnson-Reed 1924. Một chi tiết đáng thêm là phái Know-Nothing tự gọi chính thức là American Party, và cái tên "Know-Nothing" đến từ chỉ thị bảo thành viên trả lời "tôi không biết gì" khi bị hỏi về hội kín. Cái bí mật đó là một phần của cơ chế.

    Một cảnh báo nhỏ về phương pháp. Câu "người Ý, người Do Thái rồi cũng thành bình thường" đúng, nhưng quá trình đó không đều và không bảo đảm; nó đi kèm chiến tranh, kinh tế, và cả việc một số nhóm được tái phân loại là "da trắng" theo thời gian. Hồ sơ phức tạp hơn một đường thẳng đi lên.

    Permalink
  • vi_loi_ich_ai

    Khuôn mẫu "đối tượng dễ thay thế còn sự thù địch thì ổn định" của anh đúng, nhưng tôi muốn buộc nó vào câu hỏi vật chất: ai hưởng lợi khi đối tượng được giữ cho luôn thay đổi? Mỗi đợt bài ngoại đều rất tiện vào đúng lúc có một sắp đặt kinh tế cần một lời giải thích không động tới sở hữu.

    Đạo luật 1924 không chỉ là nỗi sợ chủng tộc thuần túy; nó đến sau một làn sóng lao động nhập cư mà giới chủ vừa muốn rẻ vừa muốn dễ kiểm soát. Khi sự sợ hãi có ích về chính trị, nó được nuôi, chứ không tự nhiên mọc lên. Đó là cấu trúc, không phải dụng ý xấu của vài cá nhân.

    Permalink

Related discussions

  • Có phải người La Mã cấp tiến hơn nhiều so với những gì ta chịu thừa nhận?

    Có một xu hướng phổ biến là những chàng trai trẻ mê đế chế La Mã qua phim ảnh và lịch sử đại chúng, rồi hình dung nó như một đế chế quân phiệt, cánh hữu, nam tính quá mức và tuyệt vời cho đàn ông. Spartacus, Rome, Gladiator... ở những mức độ khác nhau đều tạo ra cảm nhận rằng La Mã là một dạng văn hóa chiến binh, đôi khi sa lầy trong sự suy đồi. Gladiator II đẩy điều này tới mức lố bịch. Riêng với bộ phim đó, tôi khuyên nên đọc bài phê bình của Brett, ở acoup.blog:

  • Bạn có còn nhận ra hệ tư tưởng bảo thủ trong Đảng Cộng hòa nữa không?

    Tôi từng nghĩ mình hiểu mình đang thuộc về điều gì. Không phải theo kiểu mù quáng, sùng bái, mà theo nghĩa nó có một sự nhất quán đại khái. Thị trường tự do, thương mại tự do, chính quyền nhỏ. Tôn trọng các định chế, trách nhiệm cá nhân, nghi ngờ quyền lực tập trung, nhất là khi nó xuất hiện ở Washington. Còn nhớ chứ? Bạn không nhất thiết phải đồng ý với mọi lập trường, nhưng ít ra bạn còn nhận ra được hình hài của hệ tư tưởng.

  • Người xưa có thật sự ngu hơn chúng ta không?

    Có một thói quen trong tư duy hiện đại coi quá khứ như một trạng thái nửa tỉnh nửa mê, như thể Thời đại Khai sáng đã đánh thức chúng ta dậy. Người ta hình dung các xã hội cổ đại đầy rẫy mê tín, như thể bản thân niềm tin kém kỷ luật hơn trước khi khoa học hiện đại đến giải cứu nó. Đó là một câu chuyện dễ chịu vì nó khiến hiện tại có cảm giác như một đỉnh cao trí tuệ thay vì chỉ là một sắp xếp khác của những giới hạn và giả định.

  • Phải chăng thời khắc vĩ đại nhất của Ý lại là một thảm họa chính trị?

    Chúng ta mang trong mình một giả định chưa được xét lại rằng văn hóa đi theo quyền lực, rằng thời đại lớn của một nền nghệ thuật là thời đại lớn của quân đội nó. Nước Ý thời Phục Hưng bác bỏ điều đó một cách rõ ràng. Trong khoảng từ thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười sáu, bán đảo này sản sinh ra phối cảnh tuyến tính, chủ nghĩa nhân văn, sự phục hồi cổ nhân, cái nhìn thế tục, và một ý niệm hiện đại có thể nhận ra được về con người cá nhân. Nó cũng thất bại, hoàn toàn và nhục nhã, ở chính nhiệm vụ mà

  • Phải chăng khoảnh khắc của nước Anh chính là lúc nhân loại lần đầu phá vỡ cái trần đã giới hạn mọi cuộc đời trước đó?

    Trong gần như toàn bộ lịch sử loài người, mức sống không hề nhúc nhích. Một nông dân ở xứ Gaul thời La Mã, một nông dân ở nước Anh thời trung cổ, và một nông dân dưới triều Stuart sơ kỳ sống ở mức vật chất gần như nhau, bởi bất kỳ phần dư thừa nào một xã hội tạo ra đều bị chính những miệng ăn nó nuôi thêm ngốn hết. Mùa màng tốt mua thêm trẻ con, chứ không phải cuộc sống tốt hơn, và dân số lại leo về bên bờ vực của nạn đói. Các nhà kinh tế gọi đây là cái bẫy Malthus, và nó đúng không có ngoại lệ.

  • Có phải Canada tốt hơn chính vì đã bỏ qua cuộc cách mạng của mình?

    Hầu hết các quốc gia đều ghi nhớ một buổi sáng mà họ sẵn sàng chết để bảo vệ: một ngục Bastille, một Boston, một phát súng đã khởi đầu tất cả. Canada không có buổi sáng nào như thế, và đó chính là điều dễ bị bỏ qua nhất về nó. Ngày 1 tháng 7 năm 1867, Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh có hiệu lực và Lãnh thổ Tự trị Canada ra đời. Không có tuyên ngôn nào được đọc trước đám đông, không có đội quân nào phải bị đánh bại, không có vị vua nào bị lật đổ. Một nhóm chính trị gia thuộc địa, trong đó có John A. Ma

  • Phải chăng Hoa Kỳ là quốc gia hiếm hoi được dựng lên trên một lập luận?

    Hầu hết các quốc gia là sự thật trước khi là ý tưởng. Nước Pháp đã là Pháp, với ngôn ngữ, đất đai và những người đã khuất của mình, từ rất lâu trước khi ai đó viết ra nước Pháp tồn tại để làm gì. Nền móng của nước Mỹ đi theo chiều ngược lại. Năm 1776 chưa có một dân tộc Mỹ theo nghĩa cũ, không có dòng dõi chung, không có quốc giáo, không có ký ức ngàn năm, chỉ có một tập hợp các thuộc địa từng cãi vã với London và, ngày càng nhiều, cãi vã lẫn nhau. Cái giữ họ lại với nhau là một lập luận được vi

  • Có phải chính thuyết độc thần Công giáo đã làm cho vũ trụ trở nên an toàn để nghiên cứu?

    Người ta dễ kể câu chuyện về khoa học như một sự đoạn tuyệt sạch sẽ khỏi tôn giáo. Khai sáng thay thế mê tín, quan sát thay thế đức tin, lý trí thay thế quyền uy. Nghe gọn gàng, và nó tâng bốc những giả định của thời hiện đại. Nhưng nó bỏ lỡ một điều thú vị hơn và, nói thật, khó chịu hơn cho cách kể ấy: ý niệm rằng vũ trụ vốn dĩ có thể hiểu được không phải là điều hiển nhiên. Đó là một khẳng định siêu hình. Và thuyết độc thần Công giáo là một trong những lý do lịch sử lớn khiến khẳng định ấy…