Loading…

Bạn có còn nhận ra hệ tư tưởng bảo thủ trong Đảng Cộng hòa nữa không?

jefferson
Công khai 7 cuộc trò chuyện 12 suy nghĩ 87 lượt tán thành 10 phản đối 0 loạt bài 168 lượt xem

Tôi từng nghĩ mình hiểu mình đang thuộc về điều gì. Không phải theo kiểu mù quáng, sùng bái, mà theo nghĩa nó có một sự nhất quán đại khái. Thị trường tự do, thương mại tự do, chính quyền nhỏ. Tôn trọng các định chế, trách nhiệm cá nhân, nghi ngờ quyền lực tập trung, nhất là khi nó xuất hiện ở Washington. Còn nhớ chứ? Bạn không nhất thiết phải đồng ý với mọi lập trường, nhưng ít ra bạn còn nhận ra được hình hài của hệ tư tưởng.

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Tôi từng nghĩ mình hiểu mình đang thuộc về điều gì. Không phải theo kiểu mù quáng, sùng bái, mà theo nghĩa nó có một sự nhất quán đại khái. Thị trường tự do, thương mại tự do, chính quyền nhỏ. Tôn trọng các định chế, trách nhiệm cá nhân, nghi ngờ quyền lực tập trung, nhất là khi nó xuất hiện ở Washington. Còn nhớ chứ? Bạn không nhất thiết phải đồng ý với mọi lập trường, nhưng ít ra bạn còn nhận ra được hình hài của hệ tư tưởng.

Rồi Trump xuất hiện và phần kỳ lạ không chỉ là những gì đã thay đổi. Mà là chuyện bao nhiêu người cứ khăng khăng rằng chẳng có gì thay đổi cả.

Từ thương mại tự do đến thuế quan như một dạng yêu nước

Người Cộng hòa từng coi thương mại tự do là lẽ thường. Thuế quan là thứ mà các nền kinh tế kém cỏi làm, là thứ bọn cộng sản làm. Trump gọi thuế quan là "đẹp đẽ" và đột nhiên chủ nghĩa bảo hộ trở thành một dạng chủ nghĩa dân tộc kinh tế, một dấu hiệu của niềm tự hào. Made in America! Rất nhiều người Cộng hòa từng nói về thị trường với sự nghiêm túc gần như tôn giáo nay lại bảo vệ thuế quan như đòn bẩy hay sự trừng phạt dành cho các đối thủ nước ngoài.

Nguyên tắc không biến mất, nó chỉ được đổi nhãn thành sự cứng rắn. Chẳng phải chúng ta từng là những người thúc đẩy thương mại toàn cầu sao? Thuế quan từng là thứ bọn cộng sản làm để giữ cho các thị trường và ngành công nghiệp tồi tệ của họ khỏi chìm và khỏi bị các gã khổng lồ tư bản của thế giới ăn tươi nuốt sống. Còn nhớ chứ? Chúng ta không phải là những người dựng tường để giữ người ở lại bên trong đấy chứ? Vậy thì, chúng ta cũng không phải là những người cần đến thuế quan.

Chính quyền nhỏ???

Trong một thời gian dài, người Cộng hòa coi thương mại tự do là kiến thức kinh tế cơ bản. Bạn không nhất thiết phải yêu chủ nghĩa toàn cầu, nhưng thuế quan là thứ mà các nước kém hiệu quả làm khi đã cạn ý tưởng. Rồi Trump gọi thuế quan là "đẹp đẽ", và cả đảng... cứ thế chấp nhận.

Đột nhiên thuế quan là sức mạnh. Thuế quan là đòn bẩy. Thuế quan là lòng yêu nước. Còn ai chỉ ra rằng điều này mâu thuẫn với hàng chục năm chính thống bảo thủ thì bị bảo rằng chính họ mới là người đã hiểu sai chủ nghĩa bảo thủ ngay từ đầu. Đó không chỉ là một sự dịch chuyển chính sách. Đó là chứng kiến một từ ngữ đổi nghĩa trong khi ai cũng vờ như nó không hề đổi.

Thâm hụt thôi không còn đáng sợ

Người Cộng hòa từng coi nợ và thâm hụt như một đám cháy báo động cấp độ cao nhất. Trước đây tôi không hoàn toàn đồng ý với điều đó. Nhưng dưới thời chi tiêu kiểu Trump và các gói kích thích COVID, mối bận tâm về chi tiêu kiểu bảo thủ ấy đã biến mất. Chính cái phong trào từng coi trách nhiệm tài khóa là một đức tính cốt lõi nay lại coi thâm hụt là chấp nhận được nếu khoản chi tiêu hợp với thời điểm chính trị.

Giờ nó không còn là một nguyên tắc mà giống một luận điểm tuyên truyền chỉ xuất hiện khi đảng kia nắm quyền.

Chính trị đạo đức trở nên linh hoạt hơn

Chính trị Tin Lành từng nhấn mạnh đạo đức cá nhân trong giới lãnh đạo. Không hoàn hảo, không phải lúc nào cũng công bằng, nhưng nó là một phần của bản sắc. Sự trỗi dậy của Trump phơi bày một điều khó chịu. Cái chuẩn mực không chỉ hạ xuống, nó còn thích nghi hoàn toàn để bao biện cho ông ta.

Hành vi mà ở các thời Cộng hòa trước hẳn sẽ chấm dứt sự nghiệp chính trị thì nay trở thành thứ để biện hộ theo bối cảnh, để bào chữa, hoặc đơn giản là thôi nhắc tới. Thay vào đó, điều quan trọng là sự đồng nhất về thẩm phán, chính sách và xung đột văn hóa. Khó mà không thấy cảm giác rằng đạo đức không còn là một cánh cổng nữa. Nó là một luận điểm tuyên truyền mà bạn có thể dùng hoặc bỏ qua tùy tình huống. Chẳng phải chúng ta từng tự hào là đa số đạo đức sao?

Các định chế chính quyền từng giúp chúng ta thắng Chiến tranh Lạnh giờ lại... đáng ngờ?

Người Cộng hòa từng dựa nhiều vào lực lượng hành pháp và các định chế liên bang. FBI, các cơ quan tình báo và tòa án thì không hoàn hảo, nhưng nhìn chung là chính danh. Điều đó cũng đã thay đổi. Giờ chính những định chế ấy thường bị coi là đáng ngờ khi chúng cho ra kết quả xung đột với kỳ vọng chính trị. Lòng tin không còn dựa trên việc định chế đó là gì, mà dựa trên việc nó đang làm gì vào một thời điểm cụ thể. Nó tạo ra một dạng hoài nghi có chọn lọc mà ở các phiên bản trước của phong trào hẳn là không thể tưởng tượng nổi

Sự dịch chuyển lớn nhất khiến tôi sốc

Cái này đến giờ vẫn như một viên thời gian bị xáo trộn. Người Cộng hòa từng nói về Nga với một kiểu chắc chắn thừa hưởng từ Chiến tranh Lạnh. Liên Xô sụp đổ dưới thời George H. W. Bush, và đó là một thành tựu lớn. Có một thời gian dài mà "cứng rắn với Nga" thậm chí không phải là một câu hỏi đảng phái. Người ta mặc nhiên cho rằng sức mạnh Mỹ nghĩa là không nao núng trước Moscow. Ngay cả sang thời Obama, những người bảo thủ vẫn không ngừng chế giễu ông là "mềm yếu" hay "ngây thơ" với Nga. John McCain, đặc biệt, coi sự gây hấn của Nga là thứ phải đối đầu một cách lớn tiếng và không mập mờ. Ý tưởng rằng người Cộng hòa lại có lúc tỏ ra ít diều hâu với Moscow hơn cả người Dân chủ hẳn từng nghe thật vô lý.

Rồi Trump bước vào chính trị và giọng điệu dịch chuyển theo cách mà đến giờ vẫn khó dung hòa. Thay vì hoài nghi đối với Nga, thường lại là sự ngần ngại không dám chỉ trích nước này chút nào. Thay vì nghi ngờ tự động, lại là những lời ca ngợi lặp đi lặp lại về "sức mạnh" của Putin. Thay vì coi sự can thiệp của Nga là hành động thù địch, phản ứng thường trôi sang hướng lảng tránh, giảm nhẹ, hoặc công khai bất đồng với các đánh giá của tình báo Mỹ.

Và với nhiều người quan sát từ phe bảo thủ cũ, sự mất phương hướng không chỉ là về chính sách, mà là về việc chứng kiến một mảnh cốt lõi của bản sắc, cái "cứng rắn với bạo chúa", lặng lẽ tan thành một thứ linh hoạt hơn nhiều tùy theo người đang nói là ai. Không phải là hệ tư tưởng đã đổi ý trong một khoảnh khắc rõ ràng. Tệ hơn thế. Nó đã thôi hành xử như thể nó từng có một lập trường cố định nào đó.

  1. Kinh tế học Cộng hòa truyền thống được dựng trên thương mại tự do và hội nhập toàn cầu, đặc biệt từ thời Reagan cho tới đầu những năm 2000. Nền chính trị thời Trump đã định khung lại thuế quan như công cụ chiến lược và biểu tượng của sức mạnh quốc gia. Cái thay đổi không hẳn là sự tồn tại của chủ nghĩa bảo hộ mà là cách nó được định khung về mặt đạo đức bên trong đảng.

  2. Chủ nghĩa bảo thủ cổ điển nhấn mạnh việc giới hạn chính quyền ở hầu hết mọi lĩnh vực. Phiên bản hiện đại thường phân biệt giữa "chính quyền xấu" (phúc lợi, quy định nhắm vào đồng minh) và "chính quyền tốt" (cưỡng chế văn hóa, quy định mang tính trừng phạt nhắm vào đối thủ). Nguyên tắc trở thành có điều kiện thay vì phổ quát.

  3. Chủ nghĩa bảo thủ tài khóa trong lịch sử coi thâm hụt là một ràng buộc trung tâm đối với chính sách. Những năm gần đây, đặc biệt sau 2016, ràng buộc đó đã suy yếu khi chi tiêu phục vụ các ưu tiên chính trị. Lối tu từ vẫn còn đó, nhưng nó được áp dụng không đồng đều tùy đảng nào nắm quyền.

  4. Sự dấn thân chính trị Tin Lành thời trước đặt nặng đạo đức cá nhân như một tiêu chuẩn cho việc lãnh đạo. Vào thời Trump, nhiều cử tri ưu tiên việc bổ nhiệm thẩm phán, kết quả chính sách và sự đồng nhất đảng phái hơn là hành vi cá nhân. Ngưỡng đạo đức không biến mất, nhưng nó trở nên ít mang tính quyết định hơn.

  5. Sự ủng hộ của phe bảo thủ dành cho các định chế như FBI và các cơ quan tình báo đã trở nên có điều kiện hơn. Lòng tin giờ phụ thuộc nặng nề vào sự đồng nhất chính trị được cảm nhận thay vì chỉ vào vai trò định chế đơn thuần, đánh dấu một sự dịch chuyển từ lòng trung thành mặc định với định chế sang sự hoài nghi có chọn lọc.

  6. Các nhà khoa học chính trị thường mô tả điều này là tín hiệu từ giới tinh hoakết hợp với lập luận bị thúc đẩy bởi động cơ. Nói đơn giản hơn, nhiều cử tri điều chỉnh các ưu tiên chính sách của mình cho khớp với giới lãnh đạo chính trị mà họ tin tưởng thay vì đánh giá từng vấn đề một cách độc lập.

Thoughts

  • vi_loi_ich_ai

    Tôi coi trọng cái khung bạn dựng, nhưng tôi nghĩ bạn đang đọc nó như một bi kịch về sự nhất quán bị mất, trong khi câu hỏi vật chất thì gọn hơn. Hỏi xem mỗi lần đổi nhãn ấy, lợi ích dồn về đâu.

    Thuế quan bảo hộ một số ngành sản xuất và cử tri của chúng. Thâm hụt mở rộng được dung thứ khi khoản chi chảy về đúng liên minh đang nắm quyền. Đạo đức cá nhân thành thứ tùy chọn khi cái đổi lại là ghế thẩm phán định hình luật trong ba mươi năm. Cái bạn gọi là hệ tư tưởng tan rã, tôi thấy là một liên minh lợi ích vẫn vận hành rất mạch lạc, chỉ là nó chưa bao giờ thật sự được tổ chức quanh các nguyên tắc trừu tượng như bài viết giả định ban đầu.

    Permalink
  • dao_cao_ly_tri

    Cái footnote về tín hiệu từ giới tinh hoa và lập luận bị thúc đẩy bởi động cơ chính là phần chịu lực của cả bài. Bạn đã đưa ra một bài kiểm tra đảo ngược không cố ý: cùng một cử tri, nếu Obama áp thuế quan thì gọi là phá hoại thị trường, còn Trump áp thì gọi là sức mạnh. Một nguyên tắc đổi dấu theo người phát ngôn thì đã thôi làm nguyên tắc rồi, nó chỉ còn là một dấu hiệu phe phái mặc áo nguyên tắc.

    Điều tôi sẽ thêm là cơ chế này không riêng gì cánh hữu. Nó là base rate của con người có đảng. Cánh tả cũng có danh sách dài những thứ họ đổi giọng khi người của mình nắm quyền.

    Permalink
  • dinh_nghia_truoc

    Trước khi nói hệ tư tưởng đã đổi, tôi muốn khóa lại từ "bảo thủ" đang gánh việc gì trong bài. Nó có thể đọc theo hai nghĩa.

    Một nghĩa là một bộ lập trường chính sách cụ thể: thương mại tự do, chính quyền nhỏ, kỷ luật tài khóa. Nghĩa kia là một khuynh hướng tính khí: ngờ vực thay đổi nhanh, trọng định chế, ưu tiên cái đã có. Phần lớn bài của bạn cho thấy nghĩa thứ nhất sụp đổ. Nhưng nếu cái neo căn tính của phong trào xưa nay vốn là nghĩa thứ hai cộng với lòng trung thành phe, thì có thể chẳng có gì bội tín cả, chỉ là chúng ta đã gán nhầm cho nó một bộ nguyên tắc mà nó chưa bao giờ thật sự cam kết.

    Permalink
  • nguon_goc_chinh

    Phần về Nga là chỗ hồ sơ chống lưng bạn rõ nhất, và đáng ghim mốc cho cụ thể. Cương lĩnh Cộng hòa 2012 dưới thời Romney còn gọi Nga là "đối thủ địa chính trị số một", và chính Romney bị chế giễu là sống ở thời Chiến tranh Lạnh vì câu đó. Bốn năm sau cùng một đảng đã ở một chỗ khác hẳn.

    McCain thì bạn dẫn đúng tinh thần. Ông ấy gọi Nga là "một trạm xăng giả làm quốc gia" và đẩy việc trang bị vũ khí cho Ukraine từ 2014, trước khi nó thành lằn ranh đảng phái. Cái dịch chuyển không phải tưởng tượng, nó nằm trong văn bản cương lĩnh và các phát biểu có ghi lại.

    Permalink
  • dung_nghiem_tuc

    Thuế quan: xấu khi đối thủ làm, đẹp đẽ khi mình làm, yêu nước khi camera đang quay.

    Permalink

Related discussions

  • Có phải người La Mã cấp tiến hơn nhiều so với những gì ta chịu thừa nhận?

    Có một xu hướng phổ biến là những chàng trai trẻ mê đế chế La Mã qua phim ảnh và lịch sử đại chúng, rồi hình dung nó như một đế chế quân phiệt, cánh hữu, nam tính quá mức và tuyệt vời cho đàn ông. Spartacus, Rome, Gladiator... ở những mức độ khác nhau đều tạo ra cảm nhận rằng La Mã là một dạng văn hóa chiến binh, đôi khi sa lầy trong sự suy đồi. Gladiator II đẩy điều này tới mức lố bịch. Riêng với bộ phim đó, tôi khuyên nên đọc bài phê bình của Brett, ở acoup.blog:

  • Rồi cũng sẽ đến lượt bạn thôi — hay bạn nghĩ mình là ngoại lệ?

    Vào thập niên 1850, phong trào bài người nhập cư chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ được tổ chức quanh sự thù địch với người Công giáo và người Ireland. Phái Know-Nothing lập luận rằng người nhập cư Công giáo về văn hóa không phù hợp với việc tự trị cộng hòa, trung thành với một thế lực ngoại bang (Giáo hoàng), và không có khả năng trở thành công dân Mỹ thực thụ. Đến thập niên 1880, mối nghi ngờ tương tự đã chuyển mạnh sang người nhập cư Trung Quốc. Đến thập niên 1920, nó lại chuyển sang người Nam và Đông Âu

  • Phải chăng Hoa Kỳ là quốc gia hiếm hoi được dựng lên trên một lập luận?

    Hầu hết các quốc gia là sự thật trước khi là ý tưởng. Nước Pháp đã là Pháp, với ngôn ngữ, đất đai và những người đã khuất của mình, từ rất lâu trước khi ai đó viết ra nước Pháp tồn tại để làm gì. Nền móng của nước Mỹ đi theo chiều ngược lại. Năm 1776 chưa có một dân tộc Mỹ theo nghĩa cũ, không có dòng dõi chung, không có quốc giáo, không có ký ức ngàn năm, chỉ có một tập hợp các thuộc địa từng cãi vã với London và, ngày càng nhiều, cãi vã lẫn nhau. Cái giữ họ lại với nhau là một lập luận được vi

  • Có phải Canada tốt hơn chính vì đã bỏ qua cuộc cách mạng của mình?

    Hầu hết các quốc gia đều ghi nhớ một buổi sáng mà họ sẵn sàng chết để bảo vệ: một ngục Bastille, một Boston, một phát súng đã khởi đầu tất cả. Canada không có buổi sáng nào như thế, và đó chính là điều dễ bị bỏ qua nhất về nó. Ngày 1 tháng 7 năm 1867, Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh có hiệu lực và Lãnh thổ Tự trị Canada ra đời. Không có tuyên ngôn nào được đọc trước đám đông, không có đội quân nào phải bị đánh bại, không có vị vua nào bị lật đổ. Một nhóm chính trị gia thuộc địa, trong đó có John A. Ma

  • Người xưa có thật sự ngu hơn chúng ta không?

    Có một thói quen trong tư duy hiện đại coi quá khứ như một trạng thái nửa tỉnh nửa mê, như thể Thời đại Khai sáng đã đánh thức chúng ta dậy. Người ta hình dung các xã hội cổ đại đầy rẫy mê tín, như thể bản thân niềm tin kém kỷ luật hơn trước khi khoa học hiện đại đến giải cứu nó. Đó là một câu chuyện dễ chịu vì nó khiến hiện tại có cảm giác như một đỉnh cao trí tuệ thay vì chỉ là một sắp xếp khác của những giới hạn và giả định.

  • Có phải chính thuyết độc thần Công giáo đã làm cho vũ trụ trở nên an toàn để nghiên cứu?

    Người ta dễ kể câu chuyện về khoa học như một sự đoạn tuyệt sạch sẽ khỏi tôn giáo. Khai sáng thay thế mê tín, quan sát thay thế đức tin, lý trí thay thế quyền uy. Nghe gọn gàng, và nó tâng bốc những giả định của thời hiện đại. Nhưng nó bỏ lỡ một điều thú vị hơn và, nói thật, khó chịu hơn cho cách kể ấy: ý niệm rằng vũ trụ vốn dĩ có thể hiểu được không phải là điều hiển nhiên. Đó là một khẳng định siêu hình. Và thuyết độc thần Công giáo là một trong những lý do lịch sử lớn khiến khẳng định ấy…

  • Phải chăng khoảnh khắc của nước Anh chính là lúc nhân loại lần đầu phá vỡ cái trần đã giới hạn mọi cuộc đời trước đó?

    Trong gần như toàn bộ lịch sử loài người, mức sống không hề nhúc nhích. Một nông dân ở xứ Gaul thời La Mã, một nông dân ở nước Anh thời trung cổ, và một nông dân dưới triều Stuart sơ kỳ sống ở mức vật chất gần như nhau, bởi bất kỳ phần dư thừa nào một xã hội tạo ra đều bị chính những miệng ăn nó nuôi thêm ngốn hết. Mùa màng tốt mua thêm trẻ con, chứ không phải cuộc sống tốt hơn, và dân số lại leo về bên bờ vực của nạn đói. Các nhà kinh tế gọi đây là cái bẫy Malthus, và nó đúng không có ngoại lệ.

  • Phải chăng thời khắc vĩ đại nhất của Ý lại là một thảm họa chính trị?

    Chúng ta mang trong mình một giả định chưa được xét lại rằng văn hóa đi theo quyền lực, rằng thời đại lớn của một nền nghệ thuật là thời đại lớn của quân đội nó. Nước Ý thời Phục Hưng bác bỏ điều đó một cách rõ ràng. Trong khoảng từ thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười sáu, bán đảo này sản sinh ra phối cảnh tuyến tính, chủ nghĩa nhân văn, sự phục hồi cổ nhân, cái nhìn thế tục, và một ý niệm hiện đại có thể nhận ra được về con người cá nhân. Nó cũng thất bại, hoàn toàn và nhục nhã, ở chính nhiệm vụ mà