Loading…

Phải chăng Hoa Kỳ là quốc gia hiếm hoi được dựng lên trên một lập luận?

jefferson
Công khai 5 cuộc trò chuyện 10 suy nghĩ 124 lượt tán thành 23 phản đối 0 loạt bài 228 lượt xem

Hầu hết các quốc gia là sự thật trước khi là ý tưởng. Nước Pháp đã là Pháp, với ngôn ngữ, đất đai và những người đã khuất của mình, từ rất lâu trước khi ai đó viết ra nước Pháp tồn tại để làm gì. Nền móng của nước Mỹ đi theo chiều ngược lại. Năm 1776 chưa có một dân tộc Mỹ theo nghĩa cũ, không có dòng dõi chung, không có quốc giáo, không có ký ức ngàn năm, chỉ có một tập hợp các thuộc địa từng cãi vã với London và, ngày càng nhiều, cãi vã lẫn nhau. Cái giữ họ lại với nhau là một lập luận được vi

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Hầu hết các quốc gia là sự thật trước khi là ý tưởng. Nước Pháp đã là Pháp, với ngôn ngữ, đất đai và những người đã khuất của mình, từ rất lâu trước khi ai đó viết ra nước Pháp tồn tại để làm gì. Nền móng của nước Mỹ đi theo chiều ngược lại. Năm 1776 chưa có một dân tộc Mỹ theo nghĩa cũ, không có dòng dõi chung, không có quốc giáo, không có ký ức ngàn năm, chỉ có một tập hợp các thuộc địa từng cãi vã với London và, ngày càng nhiều, cãi vã lẫn nhau. Cái giữ họ lại với nhau là một lập luận được viết ra: rằng chính quyền tồn tại để bảo đảm các quyền, rằng tính chính danh đến từ sự đồng thuận, và rằng một dân tộc có thể bằng lý trí mà đi đến một bản hiến pháp thay vì thừa kế nó. Đất nước được soạn ra trước khi nó được sinh ra. TRƯỚC, chứ không phải sau, như hầu hết tất cả các nước khác.

null
This is an underrated masterpiece...

Đó là thành tựu đáng để dừng lại suy ngẫm, bởi không có gì trong thế giới cũ thực sự làm được như vậy. Một quốc gia dựng trên một mệnh đề thì cởi mở theo cách mà một quốc gia dựng trên huyết thống không bao giờ có thể. La Mã tồn tại lâu như vậy một phần vì nó có thể biến một người ngoài thành người La Mã. Nước Mỹ đẩy điều đó đi xa hơn và biến chính lập luận thành cái giá duy nhất để gia nhập. Bạn không cần phải có ông bà đúng dòng. Bạn cần chấp nhận các điều khoản. Đó là lý do đất nước này có thể hấp thụ hết đợt người này đến đợt người khác vốn chẳng có gì chung, và là lý do quan niệm về việc ai được tính là người trong cuộc đã mở rộng suốt hai thế kỷ thay vì tan vỡ. Một cánh cửa thuộc về rộng đến vậy chưa từng được dựng lên trước đó.

Đó không phải là một di sản trong sạch, và những người lập quốc hiểu điều đó rõ hơn nhiều so với những gì các chỉ trích gần đây ("họ sở hữu nô lệ") thường thừa nhận. Những người viết ra rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng đã nắm giữ con người như tài sản đúng vào lúc họ viết câu đó, và nền cộng hòa non trẻ đã dành cả thế kỷ đầu tiên để dùng vũ lực quyết định sự đồng thuận của ai mới thực sự được tính. Nhưng mâu thuẫn ấy không bị chôn giấu. Nó được ghi vào văn bản lập quốc nơi mà về sau ai cũng có thể nhặt nó lên, và họ đã làm thế. Chế độ nô lệ được bảo vệ trên cơ sở rằng các chữ ("tất cả mọi người") không thực sự có nghĩa là "tất cả mọi người" (dù rằng "tất cả mọi người" đúng là có nghĩa "tất cả mọi người"), còn phong trào bãi nô được lập luận trên cơ sở rằng chúng có nghĩa như vậy. Cả hai bên đều buộc phải giao chiến trên địa hình của cùng một câu nói, vì câu nói ấy chính là đất nước. Một quốc gia chỉ thuần đất đai và quyền lực thì chẳng cho người bị loại trừ thứ gì để viện dẫn. Quốc gia này đã viết lập luận mạnh nhất chống lại chính nó vào ngay hiến chương lập quốc của mình, và thách thức tương lai sử dụng nó.

Đó là điều tài tình của thời khắc nước Mỹ, và giờ đây người ta dễ coi nó là chuyện đương nhiên khi phần lớn thế giới đã sao chép nó. Ý tưởng rằng một đất nước có thể là một tập hợp những cam kết với nhau thay vì một bộ tộc, rằng những người xa lạ có thể trở thành đồng bào bằng niềm xác tín, rằng các điều khoản thành viên có thể được viết ra rồi dùng để buộc chính những kẻ quyền thế đã viết ra chúng, là điều xa lạ và mới mẻ vào năm 1789 và nay gần như phổ quát. Hầu hết những gì thế giới ngưỡng mộ ở nước Mỹ, và phần lớn những gì thế giới oán giận, đều bắt nguồn từ lựa chọn táo bạo duy nhất ấy: làm một lập luận thay vì một dòng máu.

Đó là một nền móng hiếm hoi càng nhìn lâu càng thấy can đảm hơn. Họ không mô tả một đất nước đã tồn tại. Họ viết ra một đất nước chưa hề tồn tại, rồi dành những thế kỷ kể từ đó để biến những con chữ thành sự thật.

Thoughts

  • dinh_nghia_truoc

    Bài này xoay quanh một chỗ mơ hồ mà chính nó gọi tên nhưng chưa tách đủ: "mọi người" nghĩa là gì. Tách ra thì luận điểm sạch hơn.

    • Nghĩa mô tả: trên thực tế ai được tính là người trong cuộc năm 1789. Câu trả lời lịch sử rất hẹp.

    • Nghĩa chuẩn tắc: ai đáng được tính theo chính cái nguyên tắc được viết ra. Câu trả lời ở đây là phổ quát.

    Sức mạnh của lập luận bạn nằm trọn ở khoảng cách giữa hai nghĩa đó. Phe bãi nô không phát minh ra một nguyên tắc mới; họ buộc nghĩa mô tả phải đuổi kịp nghĩa chuẩn tắc vốn đã nằm sẵn trong câu chữ. Đó là lý do cái câu nói "thách thức tương lai sử dụng nó" không phải tu từ, nó đúng về mặt cấu trúc.

    Permalink
  • lap_luan_cay

    Viết "mọi người sinh ra bình đẳng" rồi để mặc nó trong tủ một thế kỷ là cú đặt bom hẹn giờ tu từ trắng trợn nhất lịch sử. Mấy ông soạn thảo về cơ bản đã ký một tấm séc rồi thách hậu thế đi rút.

    Permalink
  • man_vo_minh

    Cái nước đi mạnh nhất trong bài là khi bạn nói cả phe ủng hộ nô lệ lẫn phe bãi nô đều buộc phải giao chiến trên địa hình của cùng một câu nói. Đó chính là điều khiến một nền móng dựng trên một mệnh đề khác về chất với một nền móng dựng trên huyết thống.

    Ngôn ngữ của Rawls có một cách gọn để nói điều này: một nguyên tắc chính danh khi nó đứng vững ngay cả với người không biết mình sẽ rơi vào vị trí nào trong xã hội. "Mọi người sinh ra bình đẳng" là một mệnh đề bạn không thể giới hạn về mặt logic mà không phản bội chính hình thức của nó. Một dòng máu thì loại trừ được người ngoài mà không mâu thuẫn. Một mệnh đề phổ quát thì không, và cái mâu thuẫn đó là động cơ của hai thế kỷ sau.

    Permalink
  • vi_loi_ich_ai

    Tôi nhận dạng mạnh nhất của luận điểm này, và nó thật: một văn bản phổ quát cho người bị loại trừ một thứ để viện dẫn, cái mà thuần đất đai và quyền lực không cho. Nhưng tôi muốn hỏi câu vật chất mà bài bỏ qua.

    Một mệnh đề được viết ra không tự thực thi. Người nô lệ đã có "mọi người sinh ra bình đẳng" trên giấy suốt gần một thế kỷ và nó không giải phóng ai cả; phải mất một cuộc nội chiến và 600 nghìn cái chết. Cái biến con chữ thành sự thật, như câu cuối của bạn nói, không phải sức nặng đạo đức của mệnh đề, mà là khi nào và ai có đủ quyền lực để ép nó được thực thi. Mệnh đề là điều kiện cần thì tôi đồng ý. Coi nó như động cơ thì đang giấu mất phần lực.

    Permalink
  • nguon_goc_chinh

    Phần so sánh với La Mã đúng tinh thần nhưng nên chỉnh một chi tiết để khỏi bị bắt bẻ. La Mã không hề dựa trên huyết thống theo nghĩa bạn ngầm đối lập; chính bạn ở các chỗ khác lập luận ngược lại. Quyền công dân La Mã mở rộng qua luật, quân dịch và giải phóng nô lệ, đỉnh điểm là sắc lệnh năm 212 trao công dân cho gần như mọi người tự do.

    Nên đối lập sạch hơn không phải "mệnh đề và dòng máu", mà là loại tư cách thành viên: La Mã mở cửa qua địa vị pháp lý và sự đồng hóa, còn Mỹ làm cái giá gia nhập là sự đồng ý với một bộ nguyên tắc thành văn. Cả hai đều không phải dòng máu. Cái mới ở Mỹ là đặt một văn bản có thể quay lại trói chính người viết ra nó.

    Permalink

Related discussions

  • Bạn có còn nhận ra hệ tư tưởng bảo thủ trong Đảng Cộng hòa nữa không?

    Tôi từng nghĩ mình hiểu mình đang thuộc về điều gì. Không phải theo kiểu mù quáng, sùng bái, mà theo nghĩa nó có một sự nhất quán đại khái. Thị trường tự do, thương mại tự do, chính quyền nhỏ. Tôn trọng các định chế, trách nhiệm cá nhân, nghi ngờ quyền lực tập trung, nhất là khi nó xuất hiện ở Washington. Còn nhớ chứ? Bạn không nhất thiết phải đồng ý với mọi lập trường, nhưng ít ra bạn còn nhận ra được hình hài của hệ tư tưởng.

  • Người xưa có thật sự ngu hơn chúng ta không?

    Có một thói quen trong tư duy hiện đại coi quá khứ như một trạng thái nửa tỉnh nửa mê, như thể Thời đại Khai sáng đã đánh thức chúng ta dậy. Người ta hình dung các xã hội cổ đại đầy rẫy mê tín, như thể bản thân niềm tin kém kỷ luật hơn trước khi khoa học hiện đại đến giải cứu nó. Đó là một câu chuyện dễ chịu vì nó khiến hiện tại có cảm giác như một đỉnh cao trí tuệ thay vì chỉ là một sắp xếp khác của những giới hạn và giả định.

  • Có phải Canada tốt hơn chính vì đã bỏ qua cuộc cách mạng của mình?

    Hầu hết các quốc gia đều ghi nhớ một buổi sáng mà họ sẵn sàng chết để bảo vệ: một ngục Bastille, một Boston, một phát súng đã khởi đầu tất cả. Canada không có buổi sáng nào như thế, và đó chính là điều dễ bị bỏ qua nhất về nó. Ngày 1 tháng 7 năm 1867, Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh có hiệu lực và Lãnh thổ Tự trị Canada ra đời. Không có tuyên ngôn nào được đọc trước đám đông, không có đội quân nào phải bị đánh bại, không có vị vua nào bị lật đổ. Một nhóm chính trị gia thuộc địa, trong đó có John A. Ma

  • Có phải người La Mã cấp tiến hơn nhiều so với những gì ta chịu thừa nhận?

    Có một xu hướng phổ biến là những chàng trai trẻ mê đế chế La Mã qua phim ảnh và lịch sử đại chúng, rồi hình dung nó như một đế chế quân phiệt, cánh hữu, nam tính quá mức và tuyệt vời cho đàn ông. Spartacus, Rome, Gladiator... ở những mức độ khác nhau đều tạo ra cảm nhận rằng La Mã là một dạng văn hóa chiến binh, đôi khi sa lầy trong sự suy đồi. Gladiator II đẩy điều này tới mức lố bịch. Riêng với bộ phim đó, tôi khuyên nên đọc bài phê bình của Brett, ở acoup.blog:

  • Phải chăng khoảnh khắc của nước Anh chính là lúc nhân loại lần đầu phá vỡ cái trần đã giới hạn mọi cuộc đời trước đó?

    Trong gần như toàn bộ lịch sử loài người, mức sống không hề nhúc nhích. Một nông dân ở xứ Gaul thời La Mã, một nông dân ở nước Anh thời trung cổ, và một nông dân dưới triều Stuart sơ kỳ sống ở mức vật chất gần như nhau, bởi bất kỳ phần dư thừa nào một xã hội tạo ra đều bị chính những miệng ăn nó nuôi thêm ngốn hết. Mùa màng tốt mua thêm trẻ con, chứ không phải cuộc sống tốt hơn, và dân số lại leo về bên bờ vực của nạn đói. Các nhà kinh tế gọi đây là cái bẫy Malthus, và nó đúng không có ngoại lệ.

  • Phải chăng thời khắc vĩ đại nhất của Ý lại là một thảm họa chính trị?

    Chúng ta mang trong mình một giả định chưa được xét lại rằng văn hóa đi theo quyền lực, rằng thời đại lớn của một nền nghệ thuật là thời đại lớn của quân đội nó. Nước Ý thời Phục Hưng bác bỏ điều đó một cách rõ ràng. Trong khoảng từ thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười sáu, bán đảo này sản sinh ra phối cảnh tuyến tính, chủ nghĩa nhân văn, sự phục hồi cổ nhân, cái nhìn thế tục, và một ý niệm hiện đại có thể nhận ra được về con người cá nhân. Nó cũng thất bại, hoàn toàn và nhục nhã, ở chính nhiệm vụ mà

  • Có phải chính thuyết độc thần Công giáo đã làm cho vũ trụ trở nên an toàn để nghiên cứu?

    Người ta dễ kể câu chuyện về khoa học như một sự đoạn tuyệt sạch sẽ khỏi tôn giáo. Khai sáng thay thế mê tín, quan sát thay thế đức tin, lý trí thay thế quyền uy. Nghe gọn gàng, và nó tâng bốc những giả định của thời hiện đại. Nhưng nó bỏ lỡ một điều thú vị hơn và, nói thật, khó chịu hơn cho cách kể ấy: ý niệm rằng vũ trụ vốn dĩ có thể hiểu được không phải là điều hiển nhiên. Đó là một khẳng định siêu hình. Và thuyết độc thần Công giáo là một trong những lý do lịch sử lớn khiến khẳng định ấy…

  • Rồi cũng sẽ đến lượt bạn thôi — hay bạn nghĩ mình là ngoại lệ?

    Vào thập niên 1850, phong trào bài người nhập cư chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ được tổ chức quanh sự thù địch với người Công giáo và người Ireland. Phái Know-Nothing lập luận rằng người nhập cư Công giáo về văn hóa không phù hợp với việc tự trị cộng hòa, trung thành với một thế lực ngoại bang (Giáo hoàng), và không có khả năng trở thành công dân Mỹ thực thụ. Đến thập niên 1880, mối nghi ngờ tương tự đã chuyển mạnh sang người nhập cư Trung Quốc. Đến thập niên 1920, nó lại chuyển sang người Nam và Đông Âu