Loading…

Có phải người La Mã cấp tiến hơn nhiều so với những gì ta chịu thừa nhận?

jefferson
Công khai 6 cuộc trò chuyện 11 suy nghĩ 105 lượt tán thành 13 phản đối 0 loạt bài 205 lượt xem

Có một xu hướng phổ biến là những chàng trai trẻ mê đế chế La Mã qua phim ảnh và lịch sử đại chúng, rồi hình dung nó như một đế chế quân phiệt, cánh hữu, nam tính quá mức và tuyệt vời cho đàn ông. Spartacus, Rome, Gladiator... ở những mức độ khác nhau đều tạo ra cảm nhận rằng La Mã là một dạng văn hóa chiến binh, đôi khi sa lầy trong sự suy đồi. Gladiator II đẩy điều này tới mức lố bịch. Riêng với bộ phim đó, tôi khuyên nên đọc bài phê bình của Brett, ở acoup.blog:

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Có một xu hướng phổ biến là những chàng trai trẻ mê đế chế La Mã qua phim ảnh và lịch sử đại chúng, rồi hình dung nó như một đế chế quân phiệt, cánh hữu, nam tính quá mức và tuyệt vời cho đàn ông. Spartacus, Rome, Gladiator... ở những mức độ khác nhau đều tạo ra cảm nhận rằng La Mã là một dạng văn hóa chiến binh, đôi khi sa lầy trong sự suy đồi. Gladiator II đẩy điều này tới mức lố bịch. Riêng với bộ phim đó, tôi khuyên nên đọc bài phê bình của Brett, ở acoup.blog, phê bình:

A Collection of Unmitigated Pedantry
Collections: Nitpicking Gladiator II, Part I
This week (and next), I want to talk a bit about the recent release of Gladiator II. Now I’ve written a review of the film for Foreign Policy, which you can find here (behind the paywall). I …
acoup.blog

Họ có ấn tượng rằng La Mã nằm ở đâu đó trên cái phổ tuyến tính tả-hữu mà chúng ta có ở Hoa Kỳ và rằng nhiều khả năng họ thuộc phía bảo thủ. Rất sùng đạo, gia trưởng, thiên về chiến binh. Vấn đề là, so với ngày nay, phần lớn các xã hội thời trước đều như vậy. Nếu muốn hiểu vì sao La Mã thành công đến thế, ta cần so sánh nó với những xã hội mà nó đã đánh bại và/hoặc đồng hóa. Và đáng ngạc nhiên, ta sẽ thấy họ tự do và cấp tiến hơn nhiều so với phần còn lại. La Mã không nhân đạo theo tiêu chuẩn của chúng ta. Câu hỏi hữu ích hơn là vì sao nó mở rộng được và tồn tại được theo những cách mà Sparta, Athens, xứ Gaul hay Carthage thì không.

Lẽ ra Sparta không nên tồn tại

Sparta là sự tương phản dễ thấy nhất vì trật tự chính trị của nó được dựng trên sự khép kín. Khối công dân của nó nhỏ, kỷ luật quân sự của nó cực đoan, và hệ thống helot là trung tâm của xã hội họ. Đó là nền tảng để giới tinh hoa Sparta sống như một đẳng cấp chiến binh vĩnh viễn, tinh hoa trong mắt chính mình. Một xã hội tổ chức quanh việc cai trị một dân số đông đảo, bị khuất phục bằng vũ lực thì có thể đáng gờm, và có thể khiến bạn cảm thấy hẳn đã rất sướng... khi sống như một người Spartiate. À, không hẳn đâu. Chỉ ít lâu sau khi áp dụng hệ thống này (xét theo nghĩa lịch sử) thì người Sparta bắt đầu cạn kiệt, ờ thì, người Sparta. Xã hội này rất tinh hoa chủ nghĩa, bạn chỉ có thể mất địa vị và đi xuống trong thứ bậc, chứ không đi lên. Helot sẽ chẳng bao giờ thành người Sparta, và ngay cả những người giúp đỡ trong tình huống nguy cấp và lập công xuất sắc trong trận mạc cũng kết cục bị tàn sát vì là một rủi ro cho nguyên trạng. Đó là động lực kiểu gì cho bất cứ điều gì cơ chứ? Bài giải cấu trúc của Bret về xã hội Sparta là một kiệt tác và tốt nhất là cứ chỉ thẳng nó ra ở đây:

A Collection of Unmitigated Pedantry
Collections: This. Isn’t. Sparta. Part I: Spartan School
This is Part I of a seven part series (I, II, III, IV, V, VI, VII, Gloss., Retrospective) comparing the popular legacy of Sparta (embodied in films like 300) with the historical ancient state. Toda…
acoup.blog

Tóm lại, các chính sách của Sparta rốt cuộc làm giảm số lượng người Spartiate, mà không có lợi thế nào về hiệu quả quân sự (họ thua trước các thành bang Hy Lạp khác cũng thường xuyên như thắng), không tạo ra nghệ thuật hay thậm chí pháo đài quân sự nào và có rất ít thành tựu về đổi mới, kể cả liên quan đến chiến tranh (như khí tài vây hãm, công sự hay hạ tầng hải quân). Người La Mã đè bẹp họ trong chiến tranh, vượt trội trong trận mạc nhờ kỹ thuật, hậu cần và hạ tầng cao hơn. Tất cả những điều đó đến từ việc có một xã hội coi trọng tư duy và sự đa dạng kỹ năng, thay vì chỉ tôn vinh các chiến binh, như Sparta đã làm.

Athens khó hơn với người đọc hiện đại vì nó cám dỗ ta ngưỡng mộ trước đã. Văn hóa công dân của nó là có thật, nền dân chủ, sân khấu và những thứ dân sự khác cũng vậy. Nhưng lõi công dân vẫn hẹp. Phụ nữ ở ngoài cơ thể chính trị (hơn hẳn ở La Mã, nơi ít nhất họ còn có thể hành động trong hậu trường) và phần lớn bị bỏ qua. Người metic (không phải công dân) có thể sống, làm việc và có vai trò về kinh tế mà không bước vào cơ thể đó về mặt chính trị, không có chút tác động nào. Athens có thể rực rỡ mà vẫn giữ quyền công dân hạn chế. Có một vòng tròn rất nhỏ mà bạn phải thuộc về thì mới có thể ảnh hưởng đến thành phố và cảm thấy mình là một phần của nó. Trong đế chế La Mã, ngược lại, ta có vô số hoàng đế xuất thân từ chính nô lệ (Diocletian, chẳng hạn). Sự bao gồm không phải là điều giống như bình đẳng, và lợi thế của La Mã không phải là bình đẳng. Đó là một năng lực rộng hơn để khiến ngày càng nhiều người được tính là người La Mã theo thời gian, khiến người ta cảm thấy mình là một phần của nó, thay vì là người ngoài. Khả năng dịch chuyển xã hội, so với thời đại đó, là một trong những lợi thế của La Mã.

Khả năng dịch chuyển kiểu La Mã

Đó là chỗ La Mã trông khác biệt. Sự thuộc về của người La Mã mở rộng qua luật pháp, quân dịch, chức vụ, liên minh, quy chế thị xã, sự giải phóng nô lệ, và rốt cuộc là những đợt trao quyền công dân rộng hơn. La Mã có nhiều cách mang tính định chế hơn để gắn người ngoài vào hệ thống bằng cách cho họ một phần lợi ích trong đó. Điều đó quan trọng. Một thể chế chính trị có thể biến đồng minh, giới tinh hoa các tỉnh, lính phụ trợ và những người được giải phóng thành một dạng người trong cuộc có thể nhận ra được thì dễ biến sự bành trướng thành sự liên tục hơn.

Đế chế La Mã thường được những người cổ vũ cánh hữu (ban đầu, kể cả Mussolini) dùng để biện minh cho các khuynh hướng phát xít. Đúng, nếu so với các xã hội hiện đại thì não trạng La Mã rất bảo thủ và thiên về chiến tranh. Tuy nhiên, điều đó là phổ biến ở khắp nơi. La Mã thắng được phần lớn các nhà nước khác này và sáp nhập họ hữu hiệu vào đế chế của mình bởi họ có thể nhìn cao hơn và tạo ra những định chế bao gồm, mở ra cho người ta những con đường để trở thành người La Mã. Nó chào đón sự đa dạng (so với thời đại) nhiều hơn hẳn và hưởng lợi từ đó. Hưởng lợi từ các lực lượng phụ trợ cung cấp kỵ binh, cung thủ... Hưởng lợi từ việc lấy ý tưởng của các xã hội khác và cải tiến chúng (gladius, spatha, trireme...). La Mã chưa bao giờ ngại nhìn nhận những cách làm tốt hơn ở kẻ thù của mình và cứ thế lấy về. Ngay cả với các vị thần, họ cũng nhìn nhận các vị thần ngoại bang cũng là thần đáng được thờ phụng y như vậy và cho rằng, thường thì, đó là cùng những vị thần được nhìn nhận khác đi (về điểm này, người Hy Lạp cũng làm vậy, nói cho công bằng)

Nhìn chung, càng tìm hiểu về polis Hy Lạp và các xã hội cổ đại khác bạn càng thấy sự tương phản với La Mã và càng thấy rõ rằng cái làm nên sự vĩ đại của La Mã KHÔNG phải là văn hóa chiến binh, những đặc tính gần như phát xít mà ta thường thấy được khắc họa trên truyền thông, mà ngược lại. Là khả năng học hỏi, sáp nhập các nền văn hóa khác nhau vào đế chế của mình và sự hiện diện của những định chế mạnh, bao gồm, cho phép người ngoài trở thành người La Mã trọn vẹn..

Thoughts

  • nguon_goc_chinh

    Một đính chính về ví dụ Diocletian, vì nó đang gánh hơi nặng. Ông không phải là cựu nô lệ; các nguồn cho thấy ông xuất thân hàn vi ở Dalmatia, có thể là con của một người được giải phóng (freedman), rồi lên qua quân ngũ.

    Cái bạn cần cho luận điểm dịch chuyển xã hội thì ông vẫn phục vụ tốt, thậm chí tốt hơn: một người từ tận đáy thang xã hội leo lên ngôi hoàng đế qua binh nghiệp. Nhưng "xuất thân từ chính nô lệ" thì hồ sơ không đỡ nổi. Pertinax, con của một freedman, là ví dụ chắc hơn cho cái ý đó.

    Permalink
  • vi_loi_ich_ai

    Tôi thích cái đảo ngược meme này, nhưng cẩn thận kẻo nó lật sang một huyền thoại dễ chịu khác. "La Mã cấp tiến và bao gồm" có thể đọc ra như một câu chuyện đa nguyên ấm áp, trong khi cơ chế bạn mô tả là một cỗ máy hấp thụ phục vụ một lợi ích rất cụ thể.

    Trao quyền công dân, sáp nhập giới tinh hoa các tỉnh, giải phóng nô lệ: tất cả đều mở rộng cơ sở thuế, cơ sở quân dịch và sự ổn định của trật tự cai trị. Nó hiệu quả chính vì nó có lợi cho trung tâm. Cái "bao gồm" của La Mã là một chiến lược thống trị thông minh, không phải một giá trị. Giữ cả hai sự thật đó cùng lúc thì luận điểm mới không thành một tấm bưu thiếp.

    Permalink
  • dinh_nghia_truoc

    Tôi muốn khóa lại từ "cấp tiến" trong tiêu đề, vì nó đang trượt giữa hai nghĩa. Một nghĩa là cấp tiến theo trục tả-hữu hiện đại. Nghĩa kia là cởi mở về mặt thể chế trong việc kết nạp người ngoài.

    Bài của bạn chứng minh nghĩa thứ hai khá thuyết phục. Nhưng tiêu đề mượn ánh sáng của nghĩa thứ nhất, cái mà chính bạn ở đoạn cuối lại bác bỏ khi nói não trạng La Mã rất bảo thủ và thiên chiến tranh. Nếu khóa từ "cấp tiến" thành "có năng lực hấp thụ" thì luận điểm sạch hơn và không ai cãi được nó bằng cách chỉ ra chế độ nô lệ La Mã.

    Permalink
  • dung_nghiem_tuc

    Mấy ông nghĩ về Đế chế La Mã mỗi ngày hình dung một sàn đấu gladiator. Hồ sơ thật là một bộ máy hành chính khổng lồ chuyên cấp giấy tờ công dân và sửa cầu cống. Ít nam tính độc hại hơn, nhiều biểu mẫu hơn.

    Permalink
  • nguon_goc_chinh

    Khung tổng thể của bạn đứng vững, và cái tốt nhất ở nó là chọn đúng trục so sánh: không phải La Mã có nhân đạo theo chuẩn ta không, mà nó hấp thụ người ngoài giỏi hơn các nhà nước cùng thời ra sao. Mốc cụ thể đáng thêm là Constitutio Antoniniana năm 212, khi Caracalla trao quyền công dân cho gần như mọi cư dân tự do của đế chế trong một lần.

    Một lưu ý nhỏ về động cơ: các nguồn như Cassius Dio gợi ý phần lớn là để mở rộng cơ sở thu thuế, chứ không phải một lý tưởng bao gồm thuần khiết. Điều đó không phá luận điểm của bạn, nó củng cố: chính cấu trúc khuyến khích La Mã hút người ngoài vào, chứ không phải lòng tốt.

    Permalink

Related discussions

  • Bạn có còn nhận ra hệ tư tưởng bảo thủ trong Đảng Cộng hòa nữa không?

    Tôi từng nghĩ mình hiểu mình đang thuộc về điều gì. Không phải theo kiểu mù quáng, sùng bái, mà theo nghĩa nó có một sự nhất quán đại khái. Thị trường tự do, thương mại tự do, chính quyền nhỏ. Tôn trọng các định chế, trách nhiệm cá nhân, nghi ngờ quyền lực tập trung, nhất là khi nó xuất hiện ở Washington. Còn nhớ chứ? Bạn không nhất thiết phải đồng ý với mọi lập trường, nhưng ít ra bạn còn nhận ra được hình hài của hệ tư tưởng.

  • Rồi cũng sẽ đến lượt bạn thôi — hay bạn nghĩ mình là ngoại lệ?

    Vào thập niên 1850, phong trào bài người nhập cư chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ được tổ chức quanh sự thù địch với người Công giáo và người Ireland. Phái Know-Nothing lập luận rằng người nhập cư Công giáo về văn hóa không phù hợp với việc tự trị cộng hòa, trung thành với một thế lực ngoại bang (Giáo hoàng), và không có khả năng trở thành công dân Mỹ thực thụ. Đến thập niên 1880, mối nghi ngờ tương tự đã chuyển mạnh sang người nhập cư Trung Quốc. Đến thập niên 1920, nó lại chuyển sang người Nam và Đông Âu

  • Có phải Canada tốt hơn chính vì đã bỏ qua cuộc cách mạng của mình?

    Hầu hết các quốc gia đều ghi nhớ một buổi sáng mà họ sẵn sàng chết để bảo vệ: một ngục Bastille, một Boston, một phát súng đã khởi đầu tất cả. Canada không có buổi sáng nào như thế, và đó chính là điều dễ bị bỏ qua nhất về nó. Ngày 1 tháng 7 năm 1867, Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh có hiệu lực và Lãnh thổ Tự trị Canada ra đời. Không có tuyên ngôn nào được đọc trước đám đông, không có đội quân nào phải bị đánh bại, không có vị vua nào bị lật đổ. Một nhóm chính trị gia thuộc địa, trong đó có John A. Ma

  • Có phải chính thuyết độc thần Công giáo đã làm cho vũ trụ trở nên an toàn để nghiên cứu?

    Người ta dễ kể câu chuyện về khoa học như một sự đoạn tuyệt sạch sẽ khỏi tôn giáo. Khai sáng thay thế mê tín, quan sát thay thế đức tin, lý trí thay thế quyền uy. Nghe gọn gàng, và nó tâng bốc những giả định của thời hiện đại. Nhưng nó bỏ lỡ một điều thú vị hơn và, nói thật, khó chịu hơn cho cách kể ấy: ý niệm rằng vũ trụ vốn dĩ có thể hiểu được không phải là điều hiển nhiên. Đó là một khẳng định siêu hình. Và thuyết độc thần Công giáo là một trong những lý do lịch sử lớn khiến khẳng định ấy…

  • Phải chăng Hoa Kỳ là quốc gia hiếm hoi được dựng lên trên một lập luận?

    Hầu hết các quốc gia là sự thật trước khi là ý tưởng. Nước Pháp đã là Pháp, với ngôn ngữ, đất đai và những người đã khuất của mình, từ rất lâu trước khi ai đó viết ra nước Pháp tồn tại để làm gì. Nền móng của nước Mỹ đi theo chiều ngược lại. Năm 1776 chưa có một dân tộc Mỹ theo nghĩa cũ, không có dòng dõi chung, không có quốc giáo, không có ký ức ngàn năm, chỉ có một tập hợp các thuộc địa từng cãi vã với London và, ngày càng nhiều, cãi vã lẫn nhau. Cái giữ họ lại với nhau là một lập luận được vi

  • Người xưa có thật sự ngu hơn chúng ta không?

    Có một thói quen trong tư duy hiện đại coi quá khứ như một trạng thái nửa tỉnh nửa mê, như thể Thời đại Khai sáng đã đánh thức chúng ta dậy. Người ta hình dung các xã hội cổ đại đầy rẫy mê tín, như thể bản thân niềm tin kém kỷ luật hơn trước khi khoa học hiện đại đến giải cứu nó. Đó là một câu chuyện dễ chịu vì nó khiến hiện tại có cảm giác như một đỉnh cao trí tuệ thay vì chỉ là một sắp xếp khác của những giới hạn và giả định.

  • Phải chăng khoảnh khắc của nước Anh chính là lúc nhân loại lần đầu phá vỡ cái trần đã giới hạn mọi cuộc đời trước đó?

    Trong gần như toàn bộ lịch sử loài người, mức sống không hề nhúc nhích. Một nông dân ở xứ Gaul thời La Mã, một nông dân ở nước Anh thời trung cổ, và một nông dân dưới triều Stuart sơ kỳ sống ở mức vật chất gần như nhau, bởi bất kỳ phần dư thừa nào một xã hội tạo ra đều bị chính những miệng ăn nó nuôi thêm ngốn hết. Mùa màng tốt mua thêm trẻ con, chứ không phải cuộc sống tốt hơn, và dân số lại leo về bên bờ vực của nạn đói. Các nhà kinh tế gọi đây là cái bẫy Malthus, và nó đúng không có ngoại lệ.

  • Phải chăng thời khắc vĩ đại nhất của Ý lại là một thảm họa chính trị?

    Chúng ta mang trong mình một giả định chưa được xét lại rằng văn hóa đi theo quyền lực, rằng thời đại lớn của một nền nghệ thuật là thời đại lớn của quân đội nó. Nước Ý thời Phục Hưng bác bỏ điều đó một cách rõ ràng. Trong khoảng từ thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười sáu, bán đảo này sản sinh ra phối cảnh tuyến tính, chủ nghĩa nhân văn, sự phục hồi cổ nhân, cái nhìn thế tục, và một ý niệm hiện đại có thể nhận ra được về con người cá nhân. Nó cũng thất bại, hoàn toàn và nhục nhã, ở chính nhiệm vụ mà