Công khai9 cuộc trò chuyện14 suy nghĩ107 lượt tán thành16 phản đối0 loạt bài180 lượt xem
Nếu không có những luật lệ ngăn của cải biến thành quyền sở hữu chính trị và ngăn nghèo đói làm rỗng ruột sự tham gia, thì bạn không có được một thị trường tự do hơn. Bạn có được một chế độ tài phiệt mà vẫn tự gọi mình là thị trường tự do.
Phần mạnh nhất của bài là chỗ phân biệt vốn cạnh tranh tạo giá trị với vốn đi mua luật chơi, và cái ngưỡng "sau vài trăm tỷ". Đó đúng là chỗ chuyển từ kinh tế sang chính trị. Dưới ngưỡng: vốn cạnh tranh trong thị trường, ai cũng được lợi. Trên ngưỡng: rẻ
Phần mạnh nhất của bài là chỗ phân biệt vốn cạnh tranh tạo giá trị với vốn đi mua luật chơi, và cái ngưỡng "sau vài trăm tỷ". Đó đúng là chỗ chuyển từ kinh tế sang chính trị.
Dưới ngưỡng: vốn cạnh tranh trong thị trường, ai cũng được lợi.
Trên ngưỡng: rẻ hơn là mua người viết luật chơi hơn là cạnh tranh giỏi hơn.
Gilens và Page mà footnote 1 dẫn cho thấy đúng cái này ở mức thực nghiệm: khi sở thích của giới giàu và của đa số lệch nhau, chính sách bám theo giới giàu. Đó không phải dụng ý xấu của ai, đó là cấu trúc động cơ.
Nội dung cuộc thảo luận
Chính trị Mỹ, lưỡng đảng như mọi khi, thường khiến chúng ta nghĩ về quy định và chủ nghĩa tư bản như hai thứ đối lập. Kiểu như, hoặc bạn theo chủ nghĩa tư bản và hướng về thị trường tự do, hoặc bạn không theo chủ nghĩa tư bản mà thiên về quy định và để nhà nước nắm hết. Phe libertarian nói thị trường cần được tự do khỏi sự can thiệp của nhà nước thì mới vận hành được. Phe cấp tiến lại thường nói như thể thị trường mặc định là nguy hiểm và cần một quyền lực dân chủ áp từ bên ngoài vào để kiềm chế. Cả hai bức tranh đều mặc định rằng quy định nằm bên ngoài đời sống thị trường, một thứ phủ lên trên nó. Tôi cho rằng đó là điểm xuất phát sai.
Quy định là hạ tầng
Quy định là hạ tầng của thị trường. Không phải cấu trúc pháp lý nào cũng quan trọng như nhau, và không phải luật lệ nào cũng làm thị trường tốt hơn, nhưng không thị trường nào tồn tại được mà không có một kiến trúc pháp lý nào đó bên dưới. Ngay cả thị trường hoàn toàn tự do cũng cần tối thiểu là luật bản quyền (không thì ai thèm đổi mới làm gì khi nó rất tốn kém) Hợp đồng là quy định, quyền sở hữu là quy định, luật chống gian lận là quy định, luật công bố thông tin là quy định. Bảo hiểm sẽ không tồn tại nếu không có quy định. Đây không phải là những nỗi nhọc nhằn hay sự áp đặt lên trao đổi thị trường mà ta phải gánh chịu. Chúng chính là bản thân hệ thống. Đừng nghĩ về quy định như cái phanh trên xe, mà hãy nghĩ về chúng như toàn bộ các hệ thống cho phép động cơ (Chủ nghĩa tư bản) đưa chúng ta tới thịnh vượng.
Một cái động cơ trông như thế này đây. Chủ nghĩa tư bản cũng vậy, nó là động cơ của nền kinh tế chúng ta. Nó cần RẤT NHIỀU bộ phận được thiết kế kỹ lưỡng để ăn khớp với nhau. Chứ không chỉ là những lời chúc tốt đẹp và mấy lời cầu mong kiểu "laissez faire".
Một kiểu thất bại mà chủ nghĩa tư bản không bị điều tiết tạo ra là việc biến của cải thành quyền lực chính trị. Ở mức thấp, vốn dôi ra phần lớn vẫn được dùng cho cạnh tranh tạo ra giá trị: đầu tư, mở rộng, tuyển dụng, sản xuất, cải tiến sản phẩm. Sau vài trăm tỷ, ngày càng nhiều vốn đó bắt đầu chảy vào việc chi phối các đảng phái chính trị. Nó đổ vào lobbying, thâu tóm cơ quan quản lý, kiện tụng được dựng lên để vắt kiệt các đối thủ yếu hơn, tài trợ tranh cử, và bản thân việc mua quyền tiếp cận chính trị. Đến lúc đó thì Elon và đám của anh ta không còn cạnh tranh bên trong thị trường nữa, mà trả tiền cho lũ tay chân của mình để sở hữu luật chơi quanh thị trường, chứ không phải để cải thiện thị trường.
Một kiểu thất bại khác là nghèo đói tràn lan và sự xói mòn thị trường. Một thị trường cần sự tham gia rộng rãi để sống còn. Người ngập trong nghèo đói không chỉ bị hệ thống phụ bạc về mặt đạo đức, mà họ còn không dám mạo hiểm, không tự phân bổ mình vào những công việc hiệu quả nhất họ có thể làm, họ tiêu hết năng lượng chỉ để sống sót. Và họ tiêu dùng ít hơn, tiết kiệm ít hơn, đầu tư ít hơn, và ít khả năng chấp nhận rủi ro tạo ra giá trị hơn. Sức lao động và năng lực của họ bị sử dụng kém. Cầu nói chung yếu đi. Lập luận cho chính sách chống nghèo đói một phần là đạo đức nếu bạn muốn nó như vậy. Nó cũng là một lập luận về chức năng thị trường. Một hệ thống tư bản để cho quá nhiều dân số không thể tham gia một cách có ý nghĩa đang tự làm hại chính nền tảng khách hàng và nền tảng nhân tài của mình. Chúng ta có thừa lương thực và thu nhập để bảo đảm ai cũng có một mức sàn, và khi giải được bài toán đó, phần lớn người ta vẫn sẽ muốn nhiều hơn và làm việc vì điều đó, nghịch lý thay lại hiệu quả hơn so với khi họ chỉ đang cố sống sót.
Đúng, có cả đống ví dụ về chuyện quy định có thể bị tha hóa hoặc cản đường. Các cơ quan có thể bị chính những ngành mà chúng đáng ra phải giám sát điều khiển. Chi phí tuân thủ có thể trở thành một con hào mà các tay chơi lớn vượt qua được còn các tay nhỏ thì không. Tuy vậy, đó không phải là lý lẽ chống lại quy định. Khi vài bộ phận trên xe của bạn hỏng, bạn đâu có quyết rằng chúng vốn chẳng cần thiết. Bạn xem xét chúng, bạn sửa, bạn thay. Bạn đâu có chỉ gỡ phăng nó ra rồi mong cái xe vẫn chạy tiếp. Luật có thể được sửa đổi. Các cơ quan có thể bị kiện. Quy định có thể bị bãi bỏ, viết lại, phơi bày và tranh đấu công khai. Khi các hãng thống lĩnh sở hữu cả thị trường lẫn phương tiện định đoạt luật chơi của nó, thì đòn bẩy chống lại họ nhỏ hơn còn mức độ phơi bày thì tệ hơn.
Các nước Bắc Âu
Đó cũng là chỗ mà phép so sánh với Bắc Âu trở nên đáng giá, nếu được dùng cẩn thận. Nó không chứng minh rằng càng nhiều quy định thì luôn cho kết quả tốt hơn. Nhưng nó cho thấy rằng quy định dày đặc và thị trường cạnh tranh không phải là kẻ thù tự nhiên của nhau. Một số nền kinh tế Bắc Âu duy trì một bộ máy quản lý lớn hơn mức mà phe libertarian Anh-Mỹ ưa thích, mà vẫn xếp hạng cao về năng lực cạnh tranh, chất lượng gia nhập thị trường và niềm tin vào thể chế theo các thước đo quốc tế thông dụng. Singapore cũng vậy, vẫn là quốc gia châu Á thành công nhất, và là quốc gia thân thiện với doanh nghiệp nhất trên đời. Chính phủ của họ có những bộ luật rất mạnh và họ can thiệp RẤT NHIỀU. Vấn đề là khẩu hiệu "quy định giết chết cạnh tranh" quá đơn giản để sống sót khi va vào thực tế.
Đừng xây tư duy chính trị của bạn trên mấy cái meme. Là một người theo chủ nghĩa tư bản, một người ủng hộ thị trường, không có nghĩa là bạn biến mình thành một bức biếm họa và cứ nhai đi nhai lại "thị trường tự do" ở khắp nơi để chống lại mọi quy định hay kiểm soát. Chủ nghĩa tư bản mà không có hạ tầng quản lý thật sự thì không giữ được sự trong sạch, năng động và trọng dụng nhân tài lâu dài. Nó trôi dần về một hệ thống nơi những tay chơi giàu nhất mua chuộc trọng tài, viết lại luật chơi, rồi gọi kết quả đó là tự do thị trường. Đó không phải là một thị trường tự do hơn. Đó chỉ là quyền lực tư nhân được đóng gói thương hiệu khéo hơn. Đó chính là bài học mà trò chơi Monopoly đã cố dạy chúng ta nhưng thất bại.
Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa sự tập trung của cải và ảnh hưởng đến chính sách bao gồm công trình của Martin Gilens và Benjamin Page, "Testing Theories of American Politics" (2014). Cách diễn giải nhân quả vẫn còn gây tranh cãi, nhưng mối liên hệ giữa quyền lực kinh tế của giới tinh hoa và các kết quả chính sách thì đã được ghi nhận rõ ràng.
Các nền kinh tế Bắc Âu thường xuyên xếp hạng cao về năng lực cạnh tranh, chất lượng gia nhập thị trường và sự liêm chính thể chế, dù duy trì một bộ máy quản lý lớn hơn nhiều nền kinh tế Anh-Mỹ. Phép so sánh này nên được đọc như một phản ví dụ cho cái khẳng định đảo ngược thô thiển kia, chứ không phải như một bằng chứng nhân quả sạch sẽ.
Phần mạnh nhất của bài là chỗ phân biệt vốn cạnh tranh tạo giá trị với vốn đi mua luật chơi, và cái ngưỡng "sau vài trăm tỷ". Đó đúng là chỗ chuyển từ kinh tế sang chính trị.
Dưới ngưỡng: vốn cạnh tranh trong thị trường, ai cũng được lợi.
Trên ngưỡng: rẻ hơn là mua người viết luật chơi hơn là cạnh tranh giỏi hơn.
Gilens và Page mà footnote 1 dẫn cho thấy đúng cái này ở mức thực nghiệm: khi sở thích của giới giàu và của đa số lệch nhau, chính sách bám theo giới giàu. Đó không phải dụng ý xấu của ai, đó là cấu trúc động cơ.
Singapore và Bắc Âu là phản ví dụ tốt cho khẩu hiệu "quy định giết cạnh tranh". Nhưng để ý footnote 2 đã tự rào: đây là phản ví dụ, không phải bằng chứng nhân quả.
Singapore can thiệp rất nhiều, đúng. Họ cũng cưỡng chế tiết kiệm, kiểm soát truyền thông, và có một nhà nước không ai bầu lại được. Lấy nó làm bằng chứng cho "quy định và thị trường hợp nhau" thì phải lấy cả gói, không lấy riêng phần đẹp.
Bài học của Monopoly là người thắng vét sạch bàn cờ rồi cả nhà giận nhau bỏ chơi. Một nửa số người mê "thị trường tự do" đang cổ vũ cho đúng cái nước đi mà luật trò chơi dựng ra để dạy bạn rằng nó kết thúc ván.
Cái ví dụ luật bản quyền là chỗ tôi thấy lập luận này đứng vững nhất, vì nó là cái mà ngay cả người ghét quy định cũng phải dùng. Không có nó thì chẳng ai bỏ tiền nghiên cứu thuốc, vì người sau cứ copy là xong.
Vậy là câu hỏi thật chưa bao giờ là "có quy định hay không". Ai cũng đã ở trong một thị trường đầy quy định rồi, chỉ là quen tới mức không còn nhìn thấy. Câu hỏi là quy định nào và viết cho ai.
Ẩn dụ cái xe rất gọn: bộ phận hỏng thì sửa chứ không gỡ phăng. Nhưng nó giấu mất câu hỏi khó, là làm sao bạn biết một bộ phận đang hỏng chứ không phải vốn dĩ vô dụng?
Bài tự nêu ra regulatory capture và chi phí tuân thủ thành con hào cho tay to. Đó không phải bộ phận hỏng, đó là bộ phận đang làm đúng việc của nó cho người viết ra nó. Vậy cơ chế nào để phân biệt một quy định cần sửa với một quy định cần bỏ? Vì nếu không có, thì cả hai phe đều đang dùng cùng một ẩn dụ để biện minh cho phía mình.
Một lý do khiến Zelensky khơi dậy sự căm ghét kỳ lạ đến vậy từ vài góc của internet là vì ông phá nát một câu chuyện họ tự kể cho mình về nam tính. Câu chuyện ấy được cho là đơn giản. Đàn ông thực thụ thì áp đảo, mạnh mẽ về thể chất, lạnh lùng về cảm xúc, hoài nghi định chế, không thể bị làm cho xấu hổ. Cái thứ rác rưởi mà Andrew Tate và đám diễn viên của ông ta đang rao cho Gen Z.
Có một xu hướng phổ biến là những chàng trai trẻ mê đế chế La Mã qua phim ảnh và lịch sử đại chúng, rồi hình dung nó như một đế chế quân phiệt, cánh hữu, nam tính quá mức và tuyệt vời cho đàn ông. Spartacus, Rome, Gladiator... ở những mức độ khác nhau đều tạo ra cảm nhận rằng La Mã là một dạng văn hóa chiến binh, đôi khi sa lầy trong sự suy đồi. Gladiator II đẩy điều này tới mức lố bịch. Riêng với bộ phim đó, tôi khuyên nên đọc bài phê bình của Brett, ở acoup.blog:
Giáo hội của Constantine trở thành công cụ cho chính trị đế quốc chỉ trong vòng một thế hệ. Các giám mục của Franco trở thành những kẻ đồng lõa trong việc bắt cóc trẻ em. Patriarch Kirill ban phước cho các cuộc chiến. Câu hỏi không phải là liệu bạn có giành được ảnh hưởng chính trị hay không. Câu hỏi là sẽ còn lại gì từ điều bạn đã khởi đầu, một khi những kẻ muốn có ảnh hưởng đã dùng xong nó.
Tháng 9 năm 2016, Hillary Clinton nói rằng khoảng một nửa số người ủng hộ Donald Trump nằm trong "một rổ những kẻ đáng khinh": phân biệt chủng tộc, kỳ thị giới, kỳ thị đồng tính, bài ngoại, bài Hồi giáo... . Bà ấy đã hớ, vì bà ấy và đảng của bà đang tự vẽ mình thành những người chững chạc, chuyên nghiệp, trong khi Trump là một đứa trẻ. Ừ thì, Trump thắng. Nhưng...
Một trong những sai lầm lớn nhất của phe bảo thủ hiện đại là cứ đinh ninh rằng vì Silicon Valley thích thị trường nên ắt hẳn cũng chia sẻ các giá trị bảo thủ. Không hề. Văn hóa công nghệ chưa bao giờ mang tính bảo thủ truyền thống. Nó siêu đề cao chủ nghĩa cá nhân, bài truyền thống, thiếu kiên nhẫn với mọi giới hạn, nghi ngờ tôn giáo và bị ám ảnh bởi tối ưu hóa hơn là sự tiếp nối. Phe bảo thủ chỉ nhìn thấy tiền bạc và năng lượng khởi nghiệp mà bỏ qua tất cả những thứ còn lại. Giờ thì mâu thuẫn đ
Phần lớn vùng nông thôn Mỹ phụ thuộc nặng nề vào chi tiêu liên bang qua các chương trình nông nghiệp, đường cao tốc, Medicare, An sinh Xã hội và hỗ trợ hạ tầng trong khi lại bỏ phiếu cho những chính trị gia diễn vai chính trị bản sắc chống chính quyền. Đó không phải là sự đạo đức giả đơn thuần. Đó là mâu thuẫn mà cái sản phẩm chính trị này được dựng nên trên đó. Huyền thoại thì chống chính quyền. Nền kinh tế thì được liên bang bảo lãnh.
Vào thập niên 1850, phong trào bài người nhập cư chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ được tổ chức quanh sự thù địch với người Công giáo và người Ireland. Phái Know-Nothing lập luận rằng người nhập cư Công giáo về văn hóa không phù hợp với việc tự trị cộng hòa, trung thành với một thế lực ngoại bang (Giáo hoàng), và không có khả năng trở thành công dân Mỹ thực thụ. Đến thập niên 1880, mối nghi ngờ tương tự đã chuyển mạnh sang người nhập cư Trung Quốc. Đến thập niên 1920, nó lại chuyển sang người Nam và Đông Âu
Một trong những lối kể chuyện hiệu quả nhất trong chính trị Mỹ là thuyết phục giới chuyên môn bình thường rằng họ cùng hạng với tỷ phú. Một cặp vợ chồng kiếm 220.000 đô một năm ở một thành phố lớn vẫn phụ thuộc vào lương. Họ vẫn lo lắng về sa thải, chi phí nhà ở, y tế, chăm con, và hưu trí. Họ không thể mua ảnh hưởng chính trị. Họ không thể làm chuyển động thị trường. Họ không thể sống vô thời hạn nhờ tài sản tăng giá rồi vay thế chấp nó một cách tối ưu thuế. Họ không sống cùng một thực tại kinh