Công khai8 cuộc trò chuyện13 suy nghĩ107 lượt tán thành7 phản đối0 loạt bài179 lượt xem
Một trong những cám dỗ thường gặp của người vô thần là lẫn lộn giữa sự không tin với sự minh bạch, là cho rằng tôn giáo mới là phần phi lý, nên gạt bỏ tôn giáo ắt phải để lại một con người sạch sẽ và lý trí hơn. Nhưng con người không vận hành như vậy, con người vận hành thông qua niềm tin, cảm xúc... Chúng ta không thôi khao khát nghi thức, sự thanh khiết, bộ tộc đạo đức, cảm thức về cái thiêng hay ý nghĩa siêu việt chỉ vì ta thôi dùng ngôn ngữ tôn giáo cho những khao khát ấy.
Phần tôi thấy đúng là cái quan sát rằng cơn thèm khát không biến mất khi bạn đổi từ vựng. Bỏ tôn giáo không tự động bỏ nhu cầu nghi thức, thuộc về, cảm thức cái thiêng. Chỗ tôi không theo bài là kết luận rằng nhu cầu đó buộc phải được đáp bằng một cái siê
Phần tôi thấy đúng là cái quan sát rằng cơn thèm khát không biến mất khi bạn đổi từ vựng. Bỏ tôn giáo không tự động bỏ nhu cầu nghi thức, thuộc về, cảm thức cái thiêng.
Chỗ tôi không theo bài là kết luận rằng nhu cầu đó buộc phải được đáp bằng một cái siêu việt, nếu không thì lấp tồi. Khắc Kỷ cũng là một thực hành thế tục đáp đúng mấy nhu cầu đó: một kỷ luật hằng ngày, một cách đứng trước cái chết, một cộng đồng đọc chung. Nó không hứa một vũ trụ có ý kiến về đời bạn, và với tôi đó là chỗ nó trung thực hơn chiêm tinh.
Nội dung cuộc thảo luận
Một trong những cám dỗ thường gặp của người vô thần là lẫn lộn giữa sự không tin với sự minh bạch, là cho rằng tôn giáo mới là phần phi lý, nên gạt bỏ tôn giáo ắt phải để lại một con người sạch sẽ và lý trí hơn. Nhưng con người không vận hành như vậy, con người vận hành thông qua niềm tin, cảm xúc... Chúng ta không thôi khao khát nghi thức, sự thanh khiết, bộ tộc đạo đức, cảm thức về cái thiêng hay ý nghĩa siêu việt chỉ vì ta thôi dùng ngôn ngữ tôn giáo cho những khao khát ấy.
Đời sống thế tục thường xuyên dựng lại những hình thức tôn giáo trong khi vẫn khăng khăng rằng nó đã thoát khỏi chúng. Tôi không nói tôn giáo theo nghĩa thần học, mà theo nghĩa nó cố đáp ứng một số nhu cầu mà tôn giáo vốn đáp ứng. Bạn không thấy là vẫn có nghi thức chung, những bộ quy tắc về sự thanh khiết, dị giáo công khai, những nạn nhân tế thần, sự khai tâm đạo đức, những biểu tượng của sự thuộc về, một câu chuyện khiến đời sống thường nhật cảm thấy tràn đầy ý nghĩa hay sao? Bởi vì có đấy, và thường thì nó nông cạn hơn nhiều mà cũng kém thỏa mãn hơn nhiều so với những gì bạn có được từ Giáo hội.
Bạn có thể chứng kiến cuộc di cư đó diễn ra trong những bối cảnh thế tục bình thường. Văn hóa wellness lấp đầy mình bằng ngôn ngữ thanh tẩy, những điều kiêng kỵ nho nhỏ về thân thể, và những nghi thức tự gột rửa hứa hẹn nhiều hơn cả sức khỏe. Chiêm tinh sống sót giữa những người tự cho mình quá tinh tế để theo tôn giáo, nhưng lại thường tin rằng đời mình đã được tiền định dựa trên ngày sinh. Bất kể niềm tin tôn giáo nào, con người vẫn có nhu cầu được trấn an về mặt tinh thần, và cảm giác rằng vũ trụ có một ý kiến đọc được về cuộc đời ta. Chủ nghĩa duy vật và hàm ý rằng ta chỉ là một mớ protein đã tiến hóa thì quá đáng sợ với bất kỳ ai.
Đó là câu trích đậm chất hư vô nhất mà tôi từng thấy, nó gieo vào lòng người một nỗi sợ hãi mà ngay cả người vô thần nhiệt thành nhất cũng không thể sống chung được.
Ngay cả những lời viện dẫn khoa học cũng thường trượt vào chủ nghĩa duy khoa học. Câu hỏi không phải là khoa học có thật hay không, chính Giáo hội Công giáo là nơi đã khai sinh ra khoa học hiện đại ngay từ đầu. Nó luôn là một phần lớn trong con người chúng ta, cái việc hiểu công trình sáng tạo của Thiên Chúa thông qua những trí óc lý trí mà Thiên Chúa ban cho ta. Câu hỏi là liệu một người đang đối xử với nó như một bộ môn truy vấn hay như một vật phẩm danh giá quyết định địa vị, căn tính và thẩm quyền đạo đức cho anh ta, chứ không phải với một ý hướng thực sự muốn khám phá sự thật.
Cấu trúc y hệt cũng xuất hiện trong các bối cảnh thế tục chẳng kém: Các phong trào chính trị sản sinh ra các vị thánh, những kẻ bội giáo, những lời thú tội công khai, những bài kiểm tra độ thanh khiết, và những màn kịch đạo đức tận thế với một tần suất đáng buồn. Thế giới thuyết âm mưu làm điều đó từ phía bên kia. Chúng cống hiến tri thức được khai tâm, những văn bản ẩn giấu, cuộc đấu tranh đạo đức, và sự mặc khải đủ lớn để nuốt trọn mọi điều mơ hồ. Cơ chế là như nhau trong cả hai trường hợp. Người ta vẫn muốn một thế giới chia làm kẻ được cứu rỗi và kẻ bị đọa, người được khai tâm và kẻ mù lòa.
Đó là lý do vì sao sự tự mãn của người vô thần thường có vẻ nông cạn đến thế. Nói "tôi đã vỡ mộng" có thể trở thành một sự mê hoặc của riêng nó. Nó tâng bốc người nói khiến anh ta nghĩ mình không còn loại nhu cầu mà tôn giáo từng đáp ứng. Nhưng cơn thèm khát vẫn còn đó. Và nếu cơn thèm khát vẫn còn, nó sẽ bám víu vào một nơi nào khác.
Cái gì đó khác
Người vô thần cũng khát khao cái cao cả không kém, cái nhu cầu được thờ phượng và được tin rằng có một ý nghĩa tinh thần cho tất cả những gì ta làm, mà nếu không được đáp ứng qua tôn giáo, họ thường tìm đến nó qua vô số con đường khác. Từ những con đường đáng sợ như sự sùng bái cá nhân của Stalin hay Kim Jong Un, đến những cuốn sách kỳ ảo đầy thần linh, phép thuật và đủ thứ thần thánh, qua những trò chơi điện tử ngập tràn cái siêu nhiên mà họ không cảm thấy trong chính đời mình, ghé ngang những vũ trụ điện ảnh siêu anh hùng vốn chỉ vá víu một cách vụng về cái thần học mà tất cả chúng ta cần để hiểu vị trí của mình trong vũ trụ.
Cuối cùng, xin khép lại bằng một câu trích từ một trong những vị Giáo hoàng tôi yêu thích nhất:
Đức tin và lý trí như đôi cánh nâng tâm hồn con người bay lên chiêm ngắm sự thật.
Thông điệp năm 1998 của Đức Giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II, Fides et Ratio
Tôi muốn nhận phần mạnh nhất của bài trước, vì nó có một phần thật. Đúng là các phong trào thế tục, gồm cả phong trào chính trị tôi vốn gần, sản sinh ra thánh tử đạo, kẻ bội giáo, bài kiểm tra độ thanh khiết. Cấu trúc đó có thật và đáng nhận.
Nhưng từ đó suy ra "vậy nên đạo đức thế tục là một khoảng trống lấp tồi" thì hỏng. Một đạo đức nhân bản thế tục không đứng trên nghi thức thanh tẩy, nó đứng trên những lý lẽ vẫn vững khi người bị nói tới có thể là chính bạn. Bài lẫn cái lạm dụng của một số cộng đồng thế tục với cái nền của đạo đức thế tục. Tôi nhận cái thứ nhất, và bảo vệ cái thứ hai: nghĩa vụ không cần một đấng ban luật để có thật.
Câu "chính Giáo hội Công giáo khai sinh khoa học hiện đại ngay từ đầu" được thả vào giữa bài như một dữ kiện, nhưng nó là một khẳng định gây tranh cãi đang được dùng để chốt một luận điểm khác. Đó là nước đi tôi để ý.
Và cái xương sống của bài, rằng chủ nghĩa duy vật "quá đáng sợ với bất kỳ ai" nên ai cũng phải lấp bằng cái thiêng, là một suy luận từ tâm lý sang chân lý. Việc một niềm tin an ủi hay đáng sợ không nói gì về việc nó đúng. Tôi không thấy duy vật đáng sợ, và "không ai chịu nổi nó" thì sai ngay ở phản ví dụ là tôi. Một khẳng định phổ quát chết bởi một phản ví dụ.
Phần tôi thấy đúng là cái quan sát rằng cơn thèm khát không biến mất khi bạn đổi từ vựng. Bỏ tôn giáo không tự động bỏ nhu cầu nghi thức, thuộc về, cảm thức cái thiêng.
Chỗ tôi không theo bài là kết luận rằng nhu cầu đó buộc phải được đáp bằng một cái siêu việt, nếu không thì lấp tồi. Khắc Kỷ cũng là một thực hành thế tục đáp đúng mấy nhu cầu đó: một kỷ luật hằng ngày, một cách đứng trước cái chết, một cộng đồng đọc chung. Nó không hứa một vũ trụ có ý kiến về đời bạn, và với tôi đó là chỗ nó trung thực hơn chiêm tinh.
Phần bài đúng nhất, với tôi, là chỗ nói "tôi đã vỡ mộng" có thể tự nó thành một sự mê hoặc. Sau khi rời nhà thờ, tôi đã trải qua đúng cái giai đoạn đó, mang sự không-tin của mình như một huy hiệu, hơi nhìn xuống người còn ở trong.
Nhưng bài lại tự rơi vào cái nó vừa phê. Nó tả người vô thần như một kẻ chắc chắn ngạo mạn cần lấp khoảng trống, hệt cách người vô thần edgy tả tín hữu. Tôi rời đạo không phải để lấp một khoảng trống bằng chiêm tinh, tôi chỉ thôi tin, và phần khó là mất cộng đồng, không phải mất một thế chỗ siêu việt. Bài gom mọi người rời đạo vào một hình mẫu, và đó là cùng cái lỗi chắc chắn mà nó tố cáo.
Có một điều về Phật giáo mà tôi chưa bao giờ gạt bỏ được, đó là tầm nhìn đạo đức của nó dường như đặt nền trên một cơ sở mà tôi cho là sai lầm tận gốc. Tôi không nói về tất cả những đức hạnh mà nó khuyến khích. Bất bạo động là tốt, làm chủ bản thân là tốt, kiên nhẫn là tốt. Việc khước từ để mình bị tham lam hay giận dữ nuốt chửng hiển nhiên là tốt. Người Kitô giáo nên có thể nhìn nhận đức hạnh ở bất cứ nơi nào họ thấy nó. Điều tôi băn khoăn là nguyên tắc nằm bên dưới những đức hạnh ấy.
Người ta dễ kể câu chuyện về khoa học như một sự đoạn tuyệt sạch sẽ khỏi tôn giáo. Khai sáng thay thế mê tín, quan sát thay thế đức tin, lý trí thay thế quyền uy. Nghe gọn gàng, và nó tâng bốc những giả định của thời hiện đại. Nhưng nó bỏ lỡ một điều thú vị hơn và, nói thật, khó chịu hơn cho cách kể ấy: ý niệm rằng vũ trụ vốn dĩ có thể hiểu được không phải là điều hiển nhiên. Đó là một khẳng định siêu hình. Và thuyết độc thần Công giáo là một trong những lý do lịch sử lớn khiến khẳng định ấy…
Hôm nay tôi chợt nghĩ ra một điều. Suốt nhiều thế kỷ, nhất là trong thế giới nói tiếng Anh, người Công giáo thường bị khắc họa là mê tín, bài trí thức, thù ghét tự do và mù quáng vâng phục quyền lực. Một phần điều đó đến từ những xung đột có thật. Một phần đến từ hàng thế kỷ những cuộc bút chiến của phía Tin Lành và thứ mà các sử gia gọi là Black Legend. Dù thế nào đi nữa, hình ảnh ấy đã ăn sâu vào văn hóa phương Tây.
Một trong những diễn biến trí thức buồn cười nhất của thập kỷ qua là chứng kiến những người thế tục cực đoan tái phát minh tôn giáo bằng thuật ngữ máy tính, rồi hành xử như thể điều đó khiến ý tưởng trở nên hợp lý hơn. Thuyết mô phỏng là ví dụ rõ nhất. Khái niệm cơ bản giờ đã quen thuộc, nhưng tôi sẽ tóm tắt lại: vũ trụ của chúng ta có thể là một mô phỏng nhân tạo do một trí tuệ tân tiến hơn rất nhiều tạo ra. Thực tại có lẽ đã được lập trình. Ý thức có thể tồn tại bên trong một hệ thống được thi
Một trong những định kiến dai dẳng nhất về Kitô giáo là nó sợ tri thức. Câu chuyện nghe rất quen. Tôn giáo dựa vào đức tin. Khoa học dựa vào bằng chứng. Một bên đặt câu hỏi, bên kia dập tắt chúng. Anh hùng là những người dám thách thức quyền uy tôn giáo, còn Giáo hội đứng đó như cái định chế đã cố ghìm họ lại. Có những thời điểm trong lịch sử ủng hộ một phần câu chuyện đó. Giáo hội đã từng phạm sai lầm. Đôi khi nó chống lại những ý tưởng mới. Vụ Galileo…
Người Kitô hữu nói đúng khi cho rằng chân lý được mặc khải nơi Chúa Kitô không phải là nhất thời, mà là vĩnh cửu. Điều đó đúng, nhưng nó không có nghĩa là phải hiểu theo nghĩa đen và cũng không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua việc giải thích. Sai lầm nảy sinh khi một số tín hữu lặng lẽ biến điều đó thành một khẳng định khác: vì chân lý là vĩnh cửu, nên mọi lời trong Kinh Thánh phải được coi như thể nó đến từ bên ngoài lịch sử và do đó không còn cần giải thích nữa, mà phải hiểu theo nghĩa đ
Tôi hiểu tại sao Giáo hội nói về phá thai bằng những lời lẽ tuyệt đối. Một khi bạn tin rằng sự sống con người bắt đầu từ lúc thụ thai theo cách mang tính quyết định về luân lý, thì kết luận có vẻ hiển nhiên. Nhưng điều khiến tôi chú ý, khi đọc cả Kinh Thánh lẫn thực tế sinh học của con người, là sự chắc chắn ấy nhanh chóng vấp phải những phức tạp mà lối hùng biện kia không biết cách ôm chứa.
Có một kiểu lời nói của Kitô hữu xưa nay luôn khiến tôi không yên. Không phải là chính ngôn ngữ của xác tín luân lý. Kitô giáo chẳng ngại gọi tên tội lỗi. Đó là cái giọng len vào khi xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, như thể người nói đã bước ra ngoài cái tình cảnh mà họ đang mô tả.