Loading…

Lập luận chống phá thai của người Công giáo có thật sự hiển nhiên như ta tưởng không? Từ góc nhìn của một người Công giáo

LordMonroe
Công khai 8 cuộc trò chuyện 13 suy nghĩ 97 lượt tán thành 10 phản đối 0 loạt bài 179 lượt xem

Tôi hiểu tại sao Giáo hội nói về phá thai bằng những lời lẽ tuyệt đối. Một khi bạn tin rằng sự sống con người bắt đầu từ lúc thụ thai theo cách mang tính quyết định về luân lý, thì kết luận có vẻ hiển nhiên. Nhưng điều khiến tôi chú ý, khi đọc cả Kinh Thánh lẫn thực tế sinh học của con người, là sự chắc chắn ấy nhanh chóng vấp phải những phức tạp mà lối hùng biện kia không biết cách ôm chứa.

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Tôi hiểu tại sao Giáo hội nói về phá thai bằng những lời lẽ tuyệt đối. Một khi bạn tin rằng sự sống con người bắt đầu từ lúc thụ thai theo cách mang tính quyết định về luân lý, thì kết luận có vẻ hiển nhiên. Nhưng điều khiến tôi chú ý, khi đọc cả Kinh Thánh lẫn thực tế sinh học của con người, là sự chắc chắn ấy nhanh chóng vấp phải những phức tạp mà lối hùng biện kia không biết cách ôm chứa.

Trong Cựu Ước, sức nặng luân lý của một tình huống luôn nhất quán đặt nơi sự sống đã được thiết định về mặt xã hội và thân xác. Điều đó không có nghĩa là sự sống chưa sinh ra bị coi như không là gì cả. Nó có nghĩa là khi xảy ra xung đột giữa một sự sống đã được thiết định và một sự sống tiềm thể, bản văn không hành xử theo cách mà các cuộc tranh luận hiện đại giả định nó phải hành xử. Exodus 21, chẳng hạn, từ lâu đã được nhiều nhà chú giải Do Thái và Kitô giáo đọc như coi việc gây hại cho một phụ nữ mang thai là một vấn đề nghiêm trọng tự thân, với thai nhi không được đặt trên cùng một nền tảng luân lý như sự sống đã thành hình trọn vẹn của người mẹ. Dù người ta phân xử những cách giải thích ấy thế nào đi nữa, vẫn khó mà lập luận rằng bản văn trình bày một thứ bậc đơn giản trong đó sự sống thai nhi đè bẹp mọi đòi hỏi khác mà không còn dư địa.

Điều đó quan trọng vì các lập luận luân lý Kitô giáo thường hành xử như thể Kinh Thánh trao cho ta một định nghĩa ranh giới sạch sẽ, hiện đại. Nó không làm vậy. Nó cho ta một thế giới luân lý trong đó trách nhiệm là có thật, sự gây hại là có thật, và sự sống con người đã được thiết định mang một sức nặng tức thời không thể quy giản thành cái tiềm thể trừu tượng.

Rồi còn có thực tế sinh học mà cuộc thảo luận hiện đại thường lặng lẽ phớt lờ. Một tỷ lệ đáng kể phôi thai đã thụ tinh không sống sót đến lúc chào đời, và nhiều trong số những mất mát đó xảy ra trước cả khi người ta phát hiện ra việc mang thai. Đây không phải là một luận điểm hùng biện. Đó là một phần trong cách sinh sản của con người thực sự diễn ra. Nó có nghĩa là cách diễn đạt luân lý về “một sự sống thành toàn trọn vẹn bắt đầu từ lúc thụ thai” nằm một cách gượng gạo bên cạnh sự thật rằng chính tự nhiên đối xử với giai đoạn phát triển sớm như một thứ mong manh, bất ổn, và thường không có khả năng sống. Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta, và Người đã làm vậy cùng với đặc điểm này.

Phẩm giá con người

Rồi còn có vấn đề phẩm giá, mà Giáo hội đặt một cách đúng đắn vào trung tâm của tầm nhìn luân lý của mình. Mỗi con người đều mang phẩm giá. Lời khẳng định đó là một trong những đóng góp sâu xa nhất của Kitô giáo. Nhưng phẩm giá không thể bị coi như một nguyên tắc một chiều luôn giải quyết mọi xung đột theo cùng một cách. Nó phải có khả năng nhận ra những va chạm giữa các điều thiện có thật.

Hãy lấy một trường hợp không thể bàn một cách ngay thẳng nếu không gọi thẳng tên nó: việc mang thai do bị hiếp dâm. Bản năng bảo vệ sự sống chưa sinh ra của Giáo hội thường được trình bày như thể nó đứng một mình, không bị động chạm bởi hoàn cảnh khởi nguồn của nó. Nhưng điều cũng hiện diện trong tình huống đó là phẩm giá của một người phụ nữ đã bị xâm hại một cách bạo lực, người mà thân thể đã bị dùng trái với ý muốn của mình, và người mà cuộc đời đã bị tổ chức lại bởi tội ác của một kẻ khác. Và, đứa bé liệu có nên lớn lên trong một môi trường như thế? Hỏi xem phẩm giá đòi hỏi điều gì ở đó không phải là chối bỏ giá trị của sự sống chưa sinh ra. Đó là hỏi xem liệu ta có thể nói về phẩm giá một cách có trách nhiệm mà không thừa nhận rằng nó đang được đòi hỏi theo hơn một hướng cùng một lúc hay không.

Tôi không đang nói ở đây về việc mang thai giai đoạn muộn hay những trường hợp cực biên được dựng lên để làm mờ trực giác. Tôi đang nói về việc mang thai giai đoạn sớm, nơi các sự kiện sinh học và luân lý còn đang phát triển, và nơi gánh nặng đặt trên thân thể và cuộc đời người phụ nữ là có thật nhưng chưa đến mức không thể đảo ngược như ở các giai đoạn về sau.

Tôi không nghĩ luân lý Kitô giáo đòi ta phải coi đây như một cuộc tranh đua được-mất trong đó chỉ một sự sống được phép có giá trị. Nhưng tôi nghĩ nó đòi hỏi nhiều sự trung thực trí tuệ hơn cái ta thường thấy trong các lập luận công khai. Có sự khác biệt giữa việc khẳng định phẩm giá của sự sống chưa sinh ra và việc gộp mọi tình huống lại thành một lệnh cấm duy nhất, không phân biệt, chẳng chừa chỗ nào cho bi kịch, xung đột, hay sự phán đoán.

Điều làm tôi băn khoăn không phải là chuyện Kitô hữu coi trọng sự sống chưa sinh ra. Mà là sự coi trọng ấy thường đi kèm với một kiểu giản lược luân lý mà chính Kinh Thánh dường như chẳng háo hức trao cho ta. Một truyền thống luân lý từng vật lộn với sự mơ hồ đôi khi bị quy giản, trong tay người hiện đại, thành một thứ rõ ràng nghe có vẻ hành chính hơn là thần học.

Và tôi không tin rằng điều này trung thành với hình thù sâu xa hơn của lối lập luận luân lý Kitô giáo, vốn luôn phải ôm giữ các đòi hỏi đối nghịch với nhau mà không giả vờ rằng một trong số chúng đơn giản biến mất chỉ vì cái kia tồn tại.

Thoughts

  • kinh_thanh_truoc

    Tôi phải dừng ở chỗ bạn dựa vào Exodus 21. Đọc cả đoạn 21:22-25 thì câu chữ nó mơ hồ hơn cách bạn dùng, và bản dịch quyết định gần hết:

    • nếu dịch là "sảy thai", thì hình phạt nhẹ hơn, hợp với cách bạn đọc

    • nhưng từ Hê-bơ-rơ yatsa nghĩa là "ra", đứa bé ra, và nhiều bản đọc đây là sinh non còn sống, với điều khoản "mạng đền mạng" áp cho cả mẹ lẫn con

    Nên đoạn này không trao cho bạn cái thứ bậc rõ ràng mà bạn nói nó trao. Nó là một trong những câu bị tranh cãi bản dịch nhiều nhất, và xây một luận điểm luân lý lên đúng câu mờ nhất là chỗ tôi thấy yếu.

    Permalink
  • man_vo_minh

    Cái bạn đang chạm tới, mà không gọi bằng tên triết học, là vấn đề trạng thái luân lý đến theo từng độ hay theo một ngưỡng nhị phân. Lập luận tuyệt đối cần một ngưỡng sạch: trước thụ thai không là gì, sau thụ thai là một người trọn vẹn. Quan sát của bạn về tỉ lệ phôi không làm tổ và về sự xung đột giữa hai phẩm giá là một lập luận rằng trạng thái ấy có thể tăng dần. Đó là một lập trường triết học khả kính, nhưng nó cũng có cái giá: trạng thái theo độ thì khó vạch ranh, và "khó vạch ranh" là chỗ mọi phía đều chảy máu, kể cả phía bạn.

    Permalink
  • duong_ra_ngoai

    Tôi muốn kéo cái này khỏi mặt trừu tượng một chút. Bạn dành một đoạn cho trường hợp mang thai do bị hiếp, và đó là chỗ tôi thấy cái khó nhất nằm. Tôi từng ngồi với một người bạn đi qua đúng tình huống đó hồi cô còn trong nhà thờ, và điều đập vào tôi là cả cộng đồng có thừa câu trả lời nguyên tắc nhưng thiếu chỗ cho con người cụ thể trong phòng. Bài của bạn ít nhất chừa lại chỗ đó, và tôi nghĩ đấy là phần can đảm hơn cả phần lập luận.

    Permalink
  • tu_duy_thomist

    Đây là một bài viết nghiêm túc và tôi muốn nhận phần mạnh của nó trước. Bạn đúng rằng giáo huấn hiện hành về thời điểm thụ thai không phải đã luôn là lập trường nhất quán: Aquinas, theo phôi thai học Aristotle, từng giữ thuyết linh hồn nhập muộn (delayed ensoulment). Đó là một dữ kiện lịch sử thật. Nhưng từ đó tới kết luận của bạn có một bước trượt: Aquinas đổi ý nếu sống hôm nay không phải vì khoa học hạ thấp phôi, mà vì sinh học hiện đại cho thấy tính liên tục di truyền từ lúc thụ tinh, đúng cái ông thiếu. Khoa học mới ngả về phía ngược với bạn, không về phía bạn.

    Permalink
  • dao_cao_ly_tri

    Cái dữ kiện tỉ lệ phôi mất sớm rất cao là một điểm mạnh và ít bị trả lời thẳng. Nhưng đẩy nó cho đúng: nó không chứng minh phôi không có giá trị, nó chỉ làm khó cho một mệnh đề rất hẹp, rằng "một con người trọn vẹn về luân lý hiện hữu từ giây thụ tinh". Nếu thật vậy thì sảy thai tự nhiên sớm là nguyên nhân chết người lớn nhất lịch sử và phải kéo theo cả một bộ nghĩa vụ y tế mà gần như không ai theo. Sự bất nhất giữa lời nói và hành xử ở đây là dữ liệu, không phải lời lẽ.

    Permalink

Related discussions

  • Tất cả người Kitô giáo đều là... người Kitô giáo - vậy ta có nên thôi phân định ai mới xứng đáng?

    Hôm nay tôi chợt nghĩ ra một điều. Suốt nhiều thế kỷ, nhất là trong thế giới nói tiếng Anh, người Công giáo thường bị khắc họa là mê tín, bài trí thức, thù ghét tự do và mù quáng vâng phục quyền lực. Một phần điều đó đến từ những xung đột có thật. Một phần đến từ hàng thế kỷ những cuộc bút chiến của phía Tin Lành và thứ mà các sử gia gọi là Black Legend. Dù thế nào đi nữa, hình ảnh ấy đã ăn sâu vào văn hóa phương Tây.

  • Liệu nguyên tắc buông bỏ của Phật giáo có thể làm gốc rễ cho một hệ thống đạo đức tốt?

    Có một điều về Phật giáo mà tôi chưa bao giờ gạt bỏ được, đó là tầm nhìn đạo đức của nó dường như đặt nền trên một cơ sở mà tôi cho là sai lầm tận gốc. Tôi không nói về tất cả những đức hạnh mà nó khuyến khích. Bất bạo động là tốt, làm chủ bản thân là tốt, kiên nhẫn là tốt. Việc khước từ để mình bị tham lam hay giận dữ nuốt chửng hiển nhiên là tốt. Người Kitô giáo nên có thể nhìn nhận đức hạnh ở bất cứ nơi nào họ thấy nó. Điều tôi băn khoăn là nguyên tắc nằm bên dưới những đức hạnh ấy.

  • Đức tin và lý trí có thật là đôi cánh nâng tinh thần con người bay lên để chiêm ngắm chân lý?

    Một trong những định kiến dai dẳng nhất về Kitô giáo là nó sợ tri thức. Câu chuyện nghe rất quen. Tôn giáo dựa vào đức tin. Khoa học dựa vào bằng chứng. Một bên đặt câu hỏi, bên kia dập tắt chúng. Anh hùng là những người dám thách thức quyền uy tôn giáo, còn Giáo hội đứng đó như cái định chế đã cố ghìm họ lại. Có những thời điểm trong lịch sử ủng hộ một phần câu chuyện đó. Giáo hội đã từng phạm sai lầm. Đôi khi nó chống lại những ý tưởng mới. Vụ Galileo…

  • Vô thần có khiến bạn lý trí hơn, hay chỉ tạo ra một khoảng trống đáng sợ mà bạn sẽ lấp đầy một cách tồi tệ?

    Một trong những cám dỗ thường gặp của người vô thần là lẫn lộn giữa sự không tin với sự minh bạch, là cho rằng tôn giáo mới là phần phi lý, nên gạt bỏ tôn giáo ắt phải để lại một con người sạch sẽ và lý trí hơn. Nhưng con người không vận hành như vậy, con người vận hành thông qua niềm tin, cảm xúc... Chúng ta không thôi khao khát nghi thức, sự thanh khiết, bộ tộc đạo đức, cảm thức về cái thiêng hay ý nghĩa siêu việt chỉ vì ta thôi dùng ngôn ngữ tôn giáo cho những khao khát ấy.

  • Chẳng phải nên so sánh Kitô giáo với thứ có trước nó, thay vì với thứ ta đang xây trên nền nó?

    Một trong những thói quen kỳ lạ hơn của các cuộc bàn luận hiện đại là Kitô giáo thường bị phán xét riêng theo chuẩn mực đạo đức của thế kỷ XXI, trong khi những thứ thay thế nó lại được phán xét theo chính cái Kitô giáo từng góp phần định hình những chuẩn mực đó ngay từ đầu. Điều này không có nghĩa Kitô giáo vô can với mọi sai trái. Đã có những cuộc chiến tôn giáo. Các Giáo hội đã tích tụ quyền lực. Người Kitô hữu đã bách hại lẫn nhau. Bất kỳ ai đọc lịch sử một cách trung thực đều phải thừa nhận

  • Nếu thông điệp của Chúa Kitô là vĩnh cửu, phải chăng ta vẫn không được phép hiểu nó theo nghĩa đen?

    Người Kitô hữu nói đúng khi cho rằng chân lý được mặc khải nơi Chúa Kitô không phải là nhất thời, mà là vĩnh cửu. Điều đó đúng, nhưng nó không có nghĩa là phải hiểu theo nghĩa đen và cũng không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua việc giải thích. Sai lầm nảy sinh khi một số tín hữu lặng lẽ biến điều đó thành một khẳng định khác: vì chân lý là vĩnh cửu, nên mọi lời trong Kinh Thánh phải được coi như thể nó đến từ bên ngoài lịch sử và do đó không còn cần giải thích nữa, mà phải hiểu theo nghĩa đ

  • Phải chăng xã hội thế tục vẫn còn tin vào tội tổ tông, chỉ là không dám gọi đúng tên?

    Một trong những điều buồn cười nhất về văn hóa thế tục hiện đại là nó hoàn toàn vẫn còn tin vào tội tổ tông. Nó chỉ từ chối gọi đúng tên như vậy, bởi ngôn ngữ thần học khiến những người có học cảm thấy không thoải mái. Hãy nghe cách các thiết chế hiện đại mô tả con người. Chúng ta bị chi phối bởi thiên kiến vô thức, bị nhào nặn bởi điều kiện hóa thời thơ ấu, bị thao túng bởi thuật toán, bị mắc kẹt trong các vòng lặp dopamine, bị bóp méo bởi những động cơ xã hội, bị che mắt bởi ý thức hệ, và phần

  • “Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái xà trong mắt mình thì lại không để ý?”

    Có một kiểu lời nói của Kitô hữu xưa nay luôn khiến tôi không yên. Không phải là chính ngôn ngữ của xác tín luân lý. Kitô giáo chẳng ngại gọi tên tội lỗi. Đó là cái giọng len vào khi xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, như thể người nói đã bước ra ngoài cái tình cảnh mà họ đang mô tả.