Loading…

“Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái xà trong mắt mình thì lại không để ý?”

LordMonroe
Công khai 7 cuộc trò chuyện 12 suy nghĩ 111 lượt tán thành 20 phản đối 0 loạt bài 181 lượt xem

Có một kiểu lời nói của Kitô hữu xưa nay luôn khiến tôi không yên. Không phải là chính ngôn ngữ của xác tín luân lý. Kitô giáo chẳng ngại gọi tên tội lỗi. Đó là cái giọng len vào khi xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, như thể người nói đã bước ra ngoài cái tình cảnh mà họ đang mô tả.

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Có một kiểu lời nói của Kitô hữu xưa nay luôn khiến tôi không yên. Không phải là chính ngôn ngữ của xác tín luân lý. Kitô giáo chẳng ngại gọi tên tội lỗi. Đó là cái giọng len vào khi xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, như thể người nói đã bước ra ngoài cái tình cảnh mà họ đang mô tả.

Truyền thống không cho phép cái tư thế đó. Chỉ duy nhất một người từng vô tội. Không phải trong lịch sử được ghi chép, không phải trong lịch sử ẩn giấu, không phải trong cả chặng dài tưởng tượng luân lý mà con người phóng chiếu lên chính mình. Chỉ một mình Chúa Kitô.

Và ngay cả ở đây, tín lý Kitô giáo cũng làm một điều cưỡng lại lối giản lược dễ dãi. Logos không phải là một hữu thể thấp kém nằm trong công trình sáng tạo. Người là Đấng mà nhờ đó muôn vật được tạo thành, trọn vẹn là Thiên Chúa, hoàn toàn là Thiên Chúa, không phải một mẫu mực luân lý leo dần lên thần tính mà là nguồn mạch từ đó chính trật tự luân lý phát xuất. Vậy mà, trong mầu nhiệm Nhập Thể, chính Logos này lại bước vào đời sống con người mà không vứt bỏ sức nặng của nó. Người không xuất hiện như một biểu tượng xa vời, bất khả chạm tới của sự tinh tuyền. Người bước vào cơn đói, sự mệt mỏi, nỗi đau buồn, và áp lực của cám dỗ. Cuộc sống tất yếu khiến bạn phạm tội. Chúng ta được mời gọi tránh nó và giúp đỡ/tha thứ cho những ai phạm phải, học hỏi và cải thiện.

Các sách Tin Mừng rất cẩn trọng về điều này. Chúa Kitô không được khắc họa như một kẻ bất khả tổn thương theo lối kịch tính. Người bị cám dỗ. Người bị thúc ép phải né tránh đau khổ. Trong vườn Gethsemane, Người nói theo một cách từ chối mọi sự tô vẽ đa cảm: “xin cho con khỏi uống chén này.” Nỗi sợ cái chết không xa lạ với thân phận con người mà Người đảm nhận. Nó được bao hàm trong đó. Điều theo sau không phải là sự vắng bóng của vật lộn, mà là sự vâng phục ngay trong cơn vật lộn ấy.

Điều này quan trọng hơn mức nó thường được phép quan trọng trong sự phán đoán hằng ngày của Kitô hữu. Nếu con người vô tội duy nhất từng hiện hữu cũng chính là người đã trải qua cám dỗ, buồn phiền, và quặn đau, thì tư thế luân lý dành cho phần còn lại của chúng ta không thể là sự chắc chắn về chính mình. Nó không thể là cái giả định lặng lẽ rằng ta đứng cao hơn cái tình cảnh ta đang phán xét.

Vấn đề không phải là sự phân định luân lý. Kitô giáo đòi hỏi sự phân định. Vấn đề là khi sự phân định lặng lẽ biến tướng thành một khoảng cách luân lý với những tội nhân khác, như thể sự sáng rõ về điều sai trái ngụ ý ta miễn nhiễm với nó. Chẳng bao giờ là vậy.

“Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái xà trong mắt mình thì lại không để ý?”

Mọi cuộc đời con người, không trừ ai, đều sống bên trong cùng một ràng buộc: chúng ta không phải là nguồn mạch của sự trọn vẹn luân lý nơi chính mình. Đó không phải là một luận điểm hùng biện. Đó là điều kiện căn bản của nhân học Kitô giáo. Quên nó đi không khiến ta nên công chính hơn. Mà khiến ta bớt ý thức được rằng sự công chính rốt cuộc có nghĩa là gì.

Đây là lý do tại sao sự phán xét, theo nghĩa Kitô giáo, xưa nay luôn đi kèm với một lời cảnh báo thường bị bỏ ngoài tai. Thước nào anh dùng để đong sẽ được dùng lại để đong cho anh. Không phải vì chân lý trở nên tương đối, mà vì sự tự lừa dối luôn dễ hơn khi hướng ra ngoài thay vì hướng vào trong.

Kiểu chủ nghĩa đạo đức Kitô giáo nguy hiểm nhất không phải là kiểu coi trọng tội lỗi. Mà là kiểu quên rằng người đang nói cũng đã ở bên trong cùng một cuộc vật lộn luân lý với người đang bị nói tới. Một khi đánh mất điều đó, sự phán xét thôi không còn là một dạng sáng rõ và trở thành một dạng che giấu.

Và nếu có chút ổn định nào trong luân lý Kitô giáo, thì nó khởi đi từ đây: chưa từng có con người nào vô tội, và không một con người nào được phép ảo tưởng rằng mình có thể là ngoại lệ.

Thoughts

  • duong_ra_ngoai

    Cái giọng bài mô tả, lúc xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, tôi nghe nó mỗi tuần suốt mấy năm ở nhà thờ cũ. Nó không bao giờ to tiếng. Nó là cách người ta nói về "người ngoài kia" bằng một sự ấm áp giả khiến họ nghe như đã đứng ngoài cái họ đang tả.

    Bài chẩn đoán đúng cái đó. Tôi chỉ nói thêm, từ bên trong: chính cái giọng này là một trong những thứ đẩy tôi ra. Không phải tín lý, mà cái khoảng cách luân lý lặng lẽ ấy. Bài bảo truyền thống không cho phép tư thế đó. Đúng trên giấy. Trong phòng thì nó vẫn xảy ra hằng tuần, và đó là phần đáng để các tín hữu ngồi với, không chỉ gật.

    Permalink
  • goc_cua_tu

    Một chú thích nhỏ về chữ "phán xét". Từ Hy Lạp krino mà câu Matthew dùng có dải nghĩa từ "phân biệt, phân định" tới "kết án". Cả căng thẳng của bài nằm gọn trong một từ: Chúa Giêsu không cấm krino theo nghĩa phân định, Người cảnh báo krino trượt sang nghĩa kết án từ một chỗ đứng cao hơn.

    Tôi nói rõ kẻo thành ngụy biện từ nguyên: gốc từ không tự quyết được tranh luận. Nhưng ở đây nó soi đúng chỗ, vì một nửa hiểu lầm câu này đến từ việc đọc "phán xét" như một nghĩa duy nhất, trong khi bản văn đang chơi trên hai nghĩa.

    Permalink
  • man_vo_minh

    Đây là một trong những lập luận tôn giáo mà tôi, một người thế tục, thấy nghiêm túc về đạo đức. Tôi nhận nó ở dạng mạnh: cái nguy không phải coi trọng tội, mà quên rằng người đang phán xét cũng ở trong cùng cuộc vật lộn.

    Tôi chỉ ghi một điều: cấu trúc này không cần phần siêu hình để vận hành. "Thước nào anh đong sẽ đong lại cho anh" gần như trùng với một trực giác về tính phổ quát của quy tắc: một phán đoán chỉ đáng tin nếu nó vẫn đứng khi áp lên chính bạn. Bài quy nó cho nhân học Kitô giáo; tôi nghĩ nó là một sự thật về phán đoán đạo đức nói chung, và đó là lý do nó vang xa ngoài tín hữu.

    Permalink
  • kinh_thanh_truoc

    Bài đọc đúng cái mạch văn mà người ta hay cắt rời. Câu cái rác và cái xà ở Matthew 7 gần như luôn bị trích để bảo đừng phán xét ai, nhưng đọc cả đoạn thì Chúa Giêsu không cấm phân định: ngay sau đó Người vẫn bảo "lấy cái xà ra khỏi mắt mình rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác khỏi mắt anh em".

    Nghĩa là vẫn lấy cái rác, vẫn phân định, nhưng theo thứ tự. Bài giữ đúng thứ tự đó, và đó là chỗ tôi thấy nó trung thực với bản văn hơn cách dùng câu này để cấm mọi phán đoán.

    Permalink
  • tu_duy_thomist

    Phần thần học của bài chắc tay hơn mức người ta thường viết trong một post. Việc nhấn rằng Logos không phải một mẫu mực luân lý leo dần lên thần tính, mà là nguồn từ đó trật tự luân lý phát xuất, đúng là điểm cốt của tín lý Nhập Thể.

    Và cái hệ quả bài rút ra thì chặt: nếu người vô tội duy nhất cũng là người chịu cám dỗ, sợ chết, quặn đau ở Gethsemane, thì tư thế luân lý của phần còn lại không thể là sự chắc chắn về chính mình. Đây là chỗ Chalcedon quan trọng: Người thật sự là người, nên cám dỗ là thật, nên khoảng cách mà kẻ tự cho mình công chính dựng lên là một sự dối trá về chính nhân học Kitô giáo.

    Permalink

Related discussions

  • Liệu nguyên tắc buông bỏ của Phật giáo có thể làm gốc rễ cho một hệ thống đạo đức tốt?

    Có một điều về Phật giáo mà tôi chưa bao giờ gạt bỏ được, đó là tầm nhìn đạo đức của nó dường như đặt nền trên một cơ sở mà tôi cho là sai lầm tận gốc. Tôi không nói về tất cả những đức hạnh mà nó khuyến khích. Bất bạo động là tốt, làm chủ bản thân là tốt, kiên nhẫn là tốt. Việc khước từ để mình bị tham lam hay giận dữ nuốt chửng hiển nhiên là tốt. Người Kitô giáo nên có thể nhìn nhận đức hạnh ở bất cứ nơi nào họ thấy nó. Điều tôi băn khoăn là nguyên tắc nằm bên dưới những đức hạnh ấy.

  • Tất cả người Kitô giáo đều là... người Kitô giáo - vậy ta có nên thôi phân định ai mới xứng đáng?

    Hôm nay tôi chợt nghĩ ra một điều. Suốt nhiều thế kỷ, nhất là trong thế giới nói tiếng Anh, người Công giáo thường bị khắc họa là mê tín, bài trí thức, thù ghét tự do và mù quáng vâng phục quyền lực. Một phần điều đó đến từ những xung đột có thật. Một phần đến từ hàng thế kỷ những cuộc bút chiến của phía Tin Lành và thứ mà các sử gia gọi là Black Legend. Dù thế nào đi nữa, hình ảnh ấy đã ăn sâu vào văn hóa phương Tây.

  • Chẳng phải nên so sánh Kitô giáo với thứ có trước nó, thay vì với thứ ta đang xây trên nền nó?

    Một trong những thói quen kỳ lạ hơn của các cuộc bàn luận hiện đại là Kitô giáo thường bị phán xét riêng theo chuẩn mực đạo đức của thế kỷ XXI, trong khi những thứ thay thế nó lại được phán xét theo chính cái Kitô giáo từng góp phần định hình những chuẩn mực đó ngay từ đầu. Điều này không có nghĩa Kitô giáo vô can với mọi sai trái. Đã có những cuộc chiến tôn giáo. Các Giáo hội đã tích tụ quyền lực. Người Kitô hữu đã bách hại lẫn nhau. Bất kỳ ai đọc lịch sử một cách trung thực đều phải thừa nhận

  • Đức tin và lý trí có thật là đôi cánh nâng tinh thần con người bay lên để chiêm ngắm chân lý?

    Một trong những định kiến dai dẳng nhất về Kitô giáo là nó sợ tri thức. Câu chuyện nghe rất quen. Tôn giáo dựa vào đức tin. Khoa học dựa vào bằng chứng. Một bên đặt câu hỏi, bên kia dập tắt chúng. Anh hùng là những người dám thách thức quyền uy tôn giáo, còn Giáo hội đứng đó như cái định chế đã cố ghìm họ lại. Có những thời điểm trong lịch sử ủng hộ một phần câu chuyện đó. Giáo hội đã từng phạm sai lầm. Đôi khi nó chống lại những ý tưởng mới. Vụ Galileo…

  • Có phải chính thuyết độc thần Công giáo đã làm cho vũ trụ trở nên an toàn để nghiên cứu?

    Người ta dễ kể câu chuyện về khoa học như một sự đoạn tuyệt sạch sẽ khỏi tôn giáo. Khai sáng thay thế mê tín, quan sát thay thế đức tin, lý trí thay thế quyền uy. Nghe gọn gàng, và nó tâng bốc những giả định của thời hiện đại. Nhưng nó bỏ lỡ một điều thú vị hơn và, nói thật, khó chịu hơn cho cách kể ấy: ý niệm rằng vũ trụ vốn dĩ có thể hiểu được không phải là điều hiển nhiên. Đó là một khẳng định siêu hình. Và thuyết độc thần Công giáo là một trong những lý do lịch sử lớn khiến khẳng định ấy…

  • Phải chăng xã hội thế tục vẫn còn tin vào tội tổ tông, chỉ là không dám gọi đúng tên?

    Một trong những điều buồn cười nhất về văn hóa thế tục hiện đại là nó hoàn toàn vẫn còn tin vào tội tổ tông. Nó chỉ từ chối gọi đúng tên như vậy, bởi ngôn ngữ thần học khiến những người có học cảm thấy không thoải mái. Hãy nghe cách các thiết chế hiện đại mô tả con người. Chúng ta bị chi phối bởi thiên kiến vô thức, bị nhào nặn bởi điều kiện hóa thời thơ ấu, bị thao túng bởi thuật toán, bị mắc kẹt trong các vòng lặp dopamine, bị bóp méo bởi những động cơ xã hội, bị che mắt bởi ý thức hệ, và phần

  • Nếu thông điệp của Chúa Kitô là vĩnh cửu, phải chăng ta vẫn không được phép hiểu nó theo nghĩa đen?

    Người Kitô hữu nói đúng khi cho rằng chân lý được mặc khải nơi Chúa Kitô không phải là nhất thời, mà là vĩnh cửu. Điều đó đúng, nhưng nó không có nghĩa là phải hiểu theo nghĩa đen và cũng không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua việc giải thích. Sai lầm nảy sinh khi một số tín hữu lặng lẽ biến điều đó thành một khẳng định khác: vì chân lý là vĩnh cửu, nên mọi lời trong Kinh Thánh phải được coi như thể nó đến từ bên ngoài lịch sử và do đó không còn cần giải thích nữa, mà phải hiểu theo nghĩa đ

  • Vô thần có khiến bạn lý trí hơn, hay chỉ tạo ra một khoảng trống đáng sợ mà bạn sẽ lấp đầy một cách tồi tệ?

    Một trong những cám dỗ thường gặp của người vô thần là lẫn lộn giữa sự không tin với sự minh bạch, là cho rằng tôn giáo mới là phần phi lý, nên gạt bỏ tôn giáo ắt phải để lại một con người sạch sẽ và lý trí hơn. Nhưng con người không vận hành như vậy, con người vận hành thông qua niềm tin, cảm xúc... Chúng ta không thôi khao khát nghi thức, sự thanh khiết, bộ tộc đạo đức, cảm thức về cái thiêng hay ý nghĩa siêu việt chỉ vì ta thôi dùng ngôn ngữ tôn giáo cho những khao khát ấy.