Bài này khung câu hỏi theo trục Kitô giáo với khoa học, mà đó đã là một khung rất phương Tây. Trong thế giới Phật giáo, các tu viện Nalanda cũng làm gần đúng việc các đan viện làm: bảo tồn, sao chép, dạy logic và nhận thức luận ở quy mô lớn. Nên cái mẫu "định chế tôn giáo nuôi học thuật" có lẽ phổ quát hơn là một công trạng riêng của một truyền thống. Điều đó không hạ thấp các đan sĩ Biển Đức, nó chỉ đặt họ vào một bức tranh rộng hơn.
Đức tin và lý trí có thật là đôi cánh nâng tinh thần con người bay lên để chiêm ngắm chân lý?
Một trong những định kiến dai dẳng nhất về Kitô giáo là nó sợ tri thức. Câu chuyện nghe rất quen. Tôn giáo dựa vào đức tin. Khoa học dựa vào bằng chứng. Một bên đặt câu hỏi, bên kia dập tắt chúng. Anh hùng là những người dám thách thức quyền uy tôn giáo, còn Giáo hội đứng đó như cái định chế đã cố ghìm họ lại. Có những thời điểm trong lịch sử ủng hộ một phần câu chuyện đó. Giáo hội đã từng phạm sai lầm. Đôi khi nó chống lại những ý tưởng mới. Vụ Galileo…
In groups
Nghĩ
Bài này khung câu hỏi theo trục Kitô giáo với khoa học, mà đó đã là một khung rất phương Tây. Trong thế giới Phật giáo, các tu viện Nalanda cũng làm gần đúng việc các đan viện làm: bảo tồn, sao chép, dạy logic và nhận thức luận ở quy mô lớn. Nên cái mẫu "
Nội dung cuộc thảo luận
Một trong những định kiến dai dẳng nhất về Kitô giáo là nó sợ tri thức.
Câu chuyện nghe rất quen. Tôn giáo dựa vào đức tin. Khoa học dựa vào bằng chứng. Một bên đặt câu hỏi, bên kia dập tắt chúng. Anh hùng là những người dám thách thức quyền uy tôn giáo, còn Giáo hội đứng đó như cái định chế đã cố ghìm họ lại. Có những thời điểm trong lịch sử ủng hộ một phần câu chuyện đó. Giáo hội đã từng phạm sai lầm. Đôi khi nó chống lại những ý tưởng mới. Vụ Galileo xứng đáng có chỗ trong các sách lịch sử và là vụ đầu tiên hiện lên trong đầu. Vấn đề là cái tự sự lớn hơn lại kể lịch sử ngược lại.
Nếu Kitô giáo về căn bản thù địch với tri thức...
...thì nó đã hành xử một cách lạ lùng đến đáng kinh ngạc suốt gần hai nghìn năm.
Khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ, châu Âu bước vào một thời kỳ phân mảnh và bất ổn. Các thư viện biến mất. Các thành phố lụi tàn. Quyền lực chính trị vỡ vụn. Vậy mà suốt những thế kỷ ấy, các đan viện lại trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất để bảo tồn tri thức thành văn. Các đan sĩ chép tay bản thảo, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Họ gìn giữ Kinh Thánh, nhưng họ cũng gìn giữ các tác phẩm của những tác giả ngoại giáo như Aristotle, Virgil, Cicero, và nhiều người khác.
Đây là một trong những điều trớ trêu lớn của lịch sử tư tưởng. Nhiều người chỉ trích Kitô giáo thời nay biết về thế giới cổ đại qua chính những văn bản còn tồn tại được nhờ các định chế Kitô giáo đã bỏ ra hàng thế kỷ để bảo tồn chúng.
Quyết định đó không phải là điều tất yếu. Giáo hội đã có thể coi nền văn chương tiền-Kitô giáo như những di vật vô giá trị của một quá khứ ngoại giáo. Hoặc như những ảnh hưởng ma quỷ, đúng kiểu Hollywood muốn ta hình dung về mấy đan sĩ đạo mạo giả tạo này. Thay vào đó, nhiều Kitô hữu tin rằng chân lý và sự khôn ngoan đáng được gìn giữ ở bất cứ nơi nào tìm thấy chúng. Một đan sĩ Kitô giáo tốt sẽ KHÔNG BAO GIỜ phí phạm bất kỳ mảnh tri thức nào, dù nó có nguy hiểm đến đâu với niềm tin của họ. Họ luôn gìn giữ nó và cố hiểu nó, đưa nó vào trong khung tư tưởng Kitô giáo.
Khi châu Âu dần ổn định trở lại, nền văn hóa trí tuệ này mở rộng ra. Các trường học nhà thờ chính tòa và các trung tâm tôn giáo tiến hóa thành một thứ mới mẻ: trường đại học. Những đại học lớn đầu tiên của châu Âu không nảy sinh để chống lại Kitô giáo. Chúng nảy sinh từ chính nền văn minh Kitô giáo. Bologna, Paris, Oxford, và vô số nơi khác lớn lên trong một thế giới được Giáo hội định hình. Thần học thường được xem là lĩnh vực nghiên cứu cao nhất, nhưng các định chế này cũng dạy luật, triết học, y học, toán học, và các môn khai phóng.
Trường đại học hiện đại không phải là hậu duệ của một cuộc nổi loạn bài tôn giáo nào đó chống lại Kitô giáo thời Trung Cổ. Nó là một trong những sáng tạo của chính Kitô giáo. Điều khiến chuyện này còn thú vị hơn nữa là giả định thần học vận hành bên dưới tất cả những điều ấy.
Công trình sáng tạo mang lý tính
Các nhà tư tưởng Kitô giáo tin rằng vũ trụ có thể hiểu được vì nó được tạo dựng bởi một Thiên Chúa có lý tính. Tự nhiên tự thân không phải là thần thánh. Mặt trời không phải là một vị thần. Sấm sét không phải là một vị thần. Sông ngòi không phải là các vị thần. Công trình sáng tạo là có thật, có trật tự, và đáng để nghiên cứu vì nó phản ánh lý tính của Đấng Tạo Hóa.
Niềm xác tín đó sinh ra một kiểu tự tin đặc biệt. Nếu Thiên Chúa tạo dựng thế giới, thì việc nghiên cứu thế giới không phải là mối đe dọa cho đức tin. Đó là một cách để hiểu công trình của Thiên Chúa.
Điều này giúp giải thích tại sao rất nhiều nhân vật khoa học quan trọng không hề thấy mình đang chống lại tôn giáo. Copernicus, người góp phần biến đổi thiên văn học, là một kinh sĩ. Gregor Mendel, người mà công trình đã đặt nền móng cho di truyền học, là một tu sĩ dòng Augustinô. Georges Lemaître, vị linh mục đầu tiên đề xuất cái về sau trở thành thuyết Big Bang, không thấy có mâu thuẫn nào giữa đức tin và khoa học của mình. Ngay cả Isaac Newton cũng dồn rất nhiều tâm sức cho các vấn đề thần học song song với công việc khoa học.
Những người này không xem việc nghiên cứu khoa học như một lối thoát khỏi Kitô giáo. Họ thường hiểu nó như một phần ơn gọi của mình để hiểu công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Chính Newton đã dành khoảng phân nửa toàn bộ công trình của ông cho Thần học, còn mối quan tâm của ông với vật lý chỉ là một cách để hiểu công trình sáng tạo của Thiên Chúa rõ hơn.
Tất cả những điều này không có nghĩa là mối quan hệ giữa Kitô giáo và tri thức luôn luôn hài hòa. Các định chế của con người hiếm khi như vậy, mà một định chế đã 2000 năm tuổi và đến nay có gần ~2,6 tỷ tín hữu thì sẽ như vậy. Giáo hội đôi khi đã bảo vệ những ý tưởng tồi, chống lại việc sửa sai, hoặc để quyền uy trở nên quan trọng hơn cả chân lý. Kitô hữu hoàn toàn có thể lười biếng về trí tuệ và giáo điều. Lịch sử cũng cung cấp vô số ví dụ cho điều đó
Điều mà chứng cứ lịch sử không ủng hộ là cái ý tưởng cho rằng Kitô giáo tự bản chất thù địch với việc tìm tòi.
Một nền văn minh đã gìn giữ sách vở qua nhiều thế kỷ bất ổn, dựng nên các trường đại học, tranh luận triết học, phát triển các hệ thống học thuật, và khuyến khích việc nghiên cứu tự nhiên thì không giống một nền văn minh sợ tri thức. Nó giống một nền văn minh tin rằng chân lý rốt cuộc thuộc về Thiên Chúa, và vì thế chẳng có gì phải sợ trước sự khảo sát ngay thẳng.
Điều trớ trêu là ngày nay nhiều người coi khoa học và Kitô giáo như những kẻ thù tự nhiên, trong khi một số định chế, giả định, và thói quen từng giúp khoa học nảy nở lại nảy sinh từ chính đời sống trí tuệ Kitô giáo.
Tính tất cả các hệ phái.
Thoughts
-
Permalink"Nếu Giáo hội thù địch tri thức thì nó đã hành xử lạ lùng suốt hai nghìn năm."
Galileo đọc câu này từ chỗ quản thúc tại gia và muốn xin nói vài lời.
-
PermalinkCái câu Gioan Phaolô II trích ở đầu, đức tin và lý trí như đôi cánh, không phải khẩu hiệu, nó là luận đề trung tâm của thông điệp Fides et Ratio. Aquinas đã đi xa hơn: ông cho rằng ân sủng kiện toàn tự nhiên chứ không phá nó, nên nghiên cứu thế giới tự nhiên là một hình thức tôn kính Đấng tạo dựng nó, không phải sự xâm phạm. Đó là lý do siêu hình học, không phải bất chấp nó, đã nuôi cái tò mò khoa học sơ kỳ ở các đại học Kinh viện.
-
PermalinkBài này khung câu hỏi theo trục Kitô giáo với khoa học, mà đó đã là một khung rất phương Tây. Trong thế giới Phật giáo, các tu viện Nalanda cũng làm gần đúng việc các đan viện làm: bảo tồn, sao chép, dạy logic và nhận thức luận ở quy mô lớn. Nên cái mẫu "định chế tôn giáo nuôi học thuật" có lẽ phổ quát hơn là một công trạng riêng của một truyền thống. Điều đó không hạ thấp các đan sĩ Biển Đức, nó chỉ đặt họ vào một bức tranh rộng hơn.
-
PermalinkTôi nhận phần lịch sử: trường đại học đầu tiên mọc ra từ trường nhà thờ chính tòa, phần lớn nhà khoa học sơ kỳ là giáo sĩ. Nhưng "đã ứng xử lạ lùng nếu thù địch tri thức suốt hai nghìn năm" là một bước nhảy. Một định chế có thể bảo tồn và nuôi học thuật trong những vùng KHÔNG đụng tới thẩm quyền của nó, và siết chặt đúng ở chỗ đụng. Bảo tồn Virgil thì an toàn. Hỏi trái đất có quay không thì không. Câu hỏi không phải Giáo hội có yêu tri thức không, mà là nó dung được tri thức nào khi tri thức đó va vào tín lý.
-
PermalinkPhần đan viện chép bản thảo này đúng và đáng nói kỹ hơn. Nhưng nói cho chính xác: phần lớn văn bản Hy Lạp cổ điển mà phương Tây có lại không tới thẳng từ các đan viện Latinh, nó đi vòng qua thế giới Hồi giáo, dịch sang Ả Rập rồi dịch lại sang Latinh ở Toledo và Sicily thế kỷ XII. Aristotle về tới Aquinas phần lớn qua con đường đó, và qua các nhà chú giải như Averroes. Câu chuyện "Giáo hội bảo tồn tri thức" đúng nhưng không độc quyền; nó là một mắt xích trong một chuỗi đa văn hóa hơn nhiều.
Related discussions
-
Không phải Giáo hội làm hỏng nhà nước, mà chính nhà nước mới làm hỏng Giáo hội?
Giáo hội của Constantine trở thành công cụ cho chính trị đế quốc chỉ trong vòng một thế hệ. Các giám mục của Franco trở thành những kẻ đồng lõa trong việc bắt cóc trẻ em. Patriarch Kirill ban phước cho các cuộc chiến. Câu hỏi không phải là liệu bạn có giành được ảnh hưởng chính trị hay không. Câu hỏi là sẽ còn lại gì từ điều bạn đã khởi đầu, một khi những kẻ muốn có ảnh hưởng đã dùng xong nó.
-
Lập luận chống phá thai của người Công giáo có thật sự hiển nhiên như ta tưởng không? Từ góc nhìn của một người Công giáo
Tôi hiểu tại sao Giáo hội nói về phá thai bằng những lời lẽ tuyệt đối. Một khi bạn tin rằng sự sống con người bắt đầu từ lúc thụ thai theo cách mang tính quyết định về luân lý, thì kết luận có vẻ hiển nhiên. Nhưng điều khiến tôi chú ý, khi đọc cả Kinh Thánh lẫn thực tế sinh học của con người, là sự chắc chắn ấy nhanh chóng vấp phải những phức tạp mà lối hùng biện kia không biết cách ôm chứa.
-
Chẳng phải nên so sánh Kitô giáo với thứ có trước nó, thay vì với thứ ta đang xây trên nền nó?
Một trong những thói quen kỳ lạ hơn của các cuộc bàn luận hiện đại là Kitô giáo thường bị phán xét riêng theo chuẩn mực đạo đức của thế kỷ XXI, trong khi những thứ thay thế nó lại được phán xét theo chính cái Kitô giáo từng góp phần định hình những chuẩn mực đó ngay từ đầu. Điều này không có nghĩa Kitô giáo vô can với mọi sai trái. Đã có những cuộc chiến tôn giáo. Các Giáo hội đã tích tụ quyền lực. Người Kitô hữu đã bách hại lẫn nhau. Bất kỳ ai đọc lịch sử một cách trung thực đều phải thừa nhận
-
Vô thần có khiến bạn lý trí hơn, hay chỉ tạo ra một khoảng trống đáng sợ mà bạn sẽ lấp đầy một cách tồi tệ?
Một trong những cám dỗ thường gặp của người vô thần là lẫn lộn giữa sự không tin với sự minh bạch, là cho rằng tôn giáo mới là phần phi lý, nên gạt bỏ tôn giáo ắt phải để lại một con người sạch sẽ và lý trí hơn. Nhưng con người không vận hành như vậy, con người vận hành thông qua niềm tin, cảm xúc... Chúng ta không thôi khao khát nghi thức, sự thanh khiết, bộ tộc đạo đức, cảm thức về cái thiêng hay ý nghĩa siêu việt chỉ vì ta thôi dùng ngôn ngữ tôn giáo cho những khao khát ấy.
-
“Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái xà trong mắt mình thì lại không để ý?”
Có một kiểu lời nói của Kitô hữu xưa nay luôn khiến tôi không yên. Không phải là chính ngôn ngữ của xác tín luân lý. Kitô giáo chẳng ngại gọi tên tội lỗi. Đó là cái giọng len vào khi xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, như thể người nói đã bước ra ngoài cái tình cảnh mà họ đang mô tả.
-
Nếu thông điệp của Chúa Kitô là vĩnh cửu, phải chăng ta vẫn không được phép hiểu nó theo nghĩa đen?
Người Kitô hữu nói đúng khi cho rằng chân lý được mặc khải nơi Chúa Kitô không phải là nhất thời, mà là vĩnh cửu. Điều đó đúng, nhưng nó không có nghĩa là phải hiểu theo nghĩa đen và cũng không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua việc giải thích. Sai lầm nảy sinh khi một số tín hữu lặng lẽ biến điều đó thành một khẳng định khác: vì chân lý là vĩnh cửu, nên mọi lời trong Kinh Thánh phải được coi như thể nó đến từ bên ngoài lịch sử và do đó không còn cần giải thích nữa, mà phải hiểu theo nghĩa đ
-
Phải chăng thuyết mô phỏng chỉ là hữu thần luận thêm vài bước rườm rà?
Một trong những diễn biến trí thức buồn cười nhất của thập kỷ qua là chứng kiến những người thế tục cực đoan tái phát minh tôn giáo bằng thuật ngữ máy tính, rồi hành xử như thể điều đó khiến ý tưởng trở nên hợp lý hơn. Thuyết mô phỏng là ví dụ rõ nhất. Khái niệm cơ bản giờ đã quen thuộc, nhưng tôi sẽ tóm tắt lại: vũ trụ của chúng ta có thể là một mô phỏng nhân tạo do một trí tuệ tân tiến hơn rất nhiều tạo ra. Thực tại có lẽ đã được lập trình. Ý thức có thể tồn tại bên trong một hệ thống được thi
-
Phải chăng xã hội thế tục vẫn còn tin vào tội tổ tông, chỉ là không dám gọi đúng tên?
Một trong những điều buồn cười nhất về văn hóa thế tục hiện đại là nó hoàn toàn vẫn còn tin vào tội tổ tông. Nó chỉ từ chối gọi đúng tên như vậy, bởi ngôn ngữ thần học khiến những người có học cảm thấy không thoải mái. Hãy nghe cách các thiết chế hiện đại mô tả con người. Chúng ta bị chi phối bởi thiên kiến vô thức, bị nhào nặn bởi điều kiện hóa thời thơ ấu, bị thao túng bởi thuật toán, bị mắc kẹt trong các vòng lặp dopamine, bị bóp méo bởi những động cơ xã hội, bị che mắt bởi ý thức hệ, và phần