Loading…

Phe bảo thủ có thật sự sở hữu Giáo hội không?

LordMonroe
Công khai 8 cuộc trò chuyện 13 suy nghĩ 91 lượt tán thành 9 phản đối 0 loạt bài 176 lượt xem

Tôi mệt mỏi với việc phe bảo thủ hành xử như thể họ sở hữu Giáo hội. Họ không sở hữu. Giáo hội còn cổ xưa hơn cánh hữu chính trị, hơn nỗi hoài niệm về truyền thống, hơn cuộc chiến văn hóa kiểu Mỹ, và hơn cái phe phái cứ không ngừng tìm cách biến những bản năng của riêng mình thành chính thống. Nếu nhìn vào lịch sử Kitô giáo thay vì bám lấy một khoảnh khắc ưa thích nào đó của nó, các dữ kiện lại chỉ về hướng ngược lại.

In groups

Nội dung cuộc thảo luận

Tôi mệt mỏi với việc phe bảo thủ hành xử như thể họ sở hữu Giáo hội. Tôi mệt mỏi với cái giọng điệu, cái tư thế, cái giả định rằng nếu bạn không bảo thủ về chính trị thì Kitô giáo của bạn ắt hẳn là nhẹ dạ, thiếu nghiêm túc, đã thỏa hiệp, thậm chí có lẽ còn chưa thực sự là Kitô giáo. Người Kitô hữu cấp tiến bị đối xử như những kẻ thuê trọ được dung thứ trong căn nhà mà phe bảo thủ tưởng tượng là họ thừa kế từ lúc lọt lòng. Họ không thừa kế nó. Họ không phải là mặc định của đức tin nghiêm túc. Họ chỉ là một phe phái bên trong một Giáo hội cổ xưa hơn, rộng hơn, lạ lùng hơn và sống động hơn nhiều so với cái thứ chính trị mà họ cứ tìm cách khoác lên nó.

Điều làm tôi khó chịu nhất là tuyên bố sở hữu này dựa trên một trí nhớ tồi. Nó tồn tại được là vì người ta nói như thể tính liên tục của Công giáo đồng nghĩa với sự bất động, sự bất động kiểu bảo thủ. Họ nói như thể trung thành nghĩa là giữ mọi kỷ luật, phong cách và thói quen thể chế càng gần càng tốt với một thời khắc ưa thích nào đó trong quá khứ. Nhưng Giáo hội chưa bao giờ sống như vậy. Luật độc thân linh mục có lịch sử của nó. Việc Giáo hội quản lý hôn nhân có lịch sử của nó. Ngôn ngữ phụng vụ có lịch sử của nó. Mối quan hệ giữa thực hành địa phương và quyền bính trung ương có lịch sử của nó. Đông và Tây thậm chí còn không cùng chung lịch sử về những vấn đề này. Giáo hội vẫn là chính mình qua thời gian, nhưng nó chưa bao giờ làm được điều đó bằng cách đóng băng mọi hình thức bề mặt.

Một khi nhớ ra điều đó, nhiều luận điệu bảo thủ bắt đầu trông không giống lòng đạo đức cho lắm mà giống một kiểu gian lận lịch sử hơn. Họ lấy một sự sắp đặt quen thuộc rồi lén nhét nó vào phạm trù của cái vĩnh viễn. Rồi họ tỏ ra sốc khi có ai nhận ra trò này. Lập trường bảo thủ nghiêm túc không thể là chuyện không có gì thay đổi cả. Nó phải là chuyện có những thứ vĩnh viễn và có những thứ thì không, và phần khó là biết phân biệt sự khác nhau ấy. Phần lớn Công giáo bảo thủ không làm cái việc đó. Nó chỉ nhầm lẫn sự gắn bó cảm xúc với lòng trung thành rồi gọi sự nhầm lẫn ấy là truyền thống.

Phải nhìn vào Giáo hội nguyên thủy.

Phe bảo thủ thích viện đến cội nguồn, nhưng cội nguồn lại không giúp họ nhiều như họ tưởng. Kitô giáo sơ khai không bước vào thế giới cổ đại như một người quản gia lịch sự cho trật tự thứ bậc của dân ngoại. Nó bước vào với những tuyên bố gây xáo trộn về mặt luân lý. Người nghèo có giá trị. Người góa bụa có giá trị. Trẻ mồ côi có giá trị. Đứa trẻ bị ruồng bỏ có giá trị. Người nô lệ có một linh hồn đứng trước Thiên Chúa với cùng một sự nghiêm túc tối hậu như người chủ. Sự tàn nhẫn mất đi vẻ hào nhoáng của nó. Bản thân lịch sử không còn trông giống như một vòng quay bất tận nơi kẻ mạnh thống trị và kẻ yếu cam chịu nữa. Kitô giáo không chỉ thừa hưởng nền văn minh, nó còn cải thiện nhiều phần của nền văn minh ấy.

Điều đó không có nghĩa là nền văn minh ngoại giáo chỉ toàn là bóng tối hay người Kitô hữu đã sửa chữa mọi thứ chỉ sau một đêm. Nó có nghĩa là một điều đơn giản hơn và quan trọng hơn. Giáo hội nguyên thủy không bảo thủ theo nghĩa hiện đại là gìn giữ một trật tự được kế thừa chỉ vì nó được kế thừa. Nó phá vỡ nhiều thứ, nó mang gươm giáo đến. Nó thách thức các thứ bậc địa vị, đặt người nghèo lên trước và người giàu xuống sau. Nó đặt áp lực luân lý lên những thực hành mà các nền văn hóa trước đó có thể sống chung dễ dàng hơn. Vậy nên khi tôi nghe phe bảo thủ nói như thể vai trò tự nhiên của Kitô giáo là ngồi yên và chúc lành cho trật tự thứ bậc với một bộ mặt trang nghiêm, tôi không nghe thấy lòng trung thành với cội nguồn. Tôi nghe thấy một sự làm phẳng cội nguồn.

Cuộc chiến ngớ ngẩn nhất, về Công đồng Vatican II

Vấn đề tương tự lộ ra trong cuộc chiến về Vatican II. Phe bảo thủ cứ nói về công đồng này như thể nó là một sự đầu hàng chủ nghĩa tự do hiện đại và, vì lý do nào đó, đã chọn nó làm một sự kiện cụ thể để tập hợp lực lượng chống lại. Nó kêu gọi tham dự phụng vụ trọn vẹn hơn, tiếp cận Kinh Thánh rộng rãi hơn, tìm về các nguồn cổ xưa hơn, và coi trọng thế giới hiện đại đủ để nói với nó bằng một ngôn ngữ mà người ta thực sự hiểu được, mà không phải từ bỏ giáo lý trong tiến trình đó. Vậy nên khi phe bảo thủ nói như thể Vatican II rõ ràng là một sự đầu hàng, họ không hề đang dũng cảm kháng cự chủ nghĩa tự do. Họ đang làm phẳng chính cách Giáo hội tự thuật về mình. Bạn có thể nghĩ rằng một phần những gì xảy ra sau đó là xấu xí, bị làm phẳng, ủy mị, dạy dỗ kém, hoặc thực thi tệ. Phần nhiều đúng là như vậy. Nhưng những thất bại đó không xóa bỏ điều mà công đồng nói nó đang cố làm. Tôi cũng không biết nữa, tôi không nghĩ Thiên Chúa lại dừng ở tiếng Latinh rồi phán “Đúng, đây là ngôn ngữ Ta muốn dùng cho Thánh lễ. Hoàn hảo”

Và Vatican II không hề bất thường ở khía cạnh đó. Lịch sử Công giáo đầy rẫy những cuộc tranh cãi về việc liệu sự thích nghi là trung thành hay phản bội. Đó là lý do Dòng Tên có ý nghĩa ở đây. Họ là một trong những bằng chứng rõ nhất rằng Công giáo từ lâu đã dành chỗ cho sự thích nghi, dịch thuật, tham vọng trí tuệ và sự linh hoạt truyền giáo mà không tan biến vào nền văn hóa xung quanh. Matteo Ricci, một tu sĩ Dòng Tên, không đến Trung Hoa để xuất khẩu một dáng vẻ châu Âu đông cứng. Ông sống như một người Trung Hoa. Roberto de Nobili không đến Ấn Độ để chứng minh rằng Công giáo không có khả năng học một ngôn ngữ, một quy tắc xã hội hay một hệ thống biểu tượng mới. Lịch sử Dòng Tên đầy căng thẳng, rủi ro, vượt mức và phản ứng dữ dội. Được thôi. Lịch sử Giáo hội nói chung cũng vậy. Vấn đề là sự thích nghi không phải là thứ ô nhiễm hiện đại nào đó vừa xuất hiện vào thập niên 1960. Nó là một phần của những dữ kiện mà phe bảo thủ tuyên bố là họ đang bảo vệ.

null
Quááá nhiều linh mục woke, lgbt, marxist vào thập niên 60 đã quyết định một điều gì đó và bằng cách nào đó tất cả họ đều sai.

Cái bề rộng Công giáo ấy chính là thứ giờ đây cảm thấy bị thu hẹp lại trong một số phần của Công giáo Mỹ. Phần lớn những gì được coi là sự nghiêm túc cứng rắn của Công giáo ở Hoa Kỳ nghe ít giống Công giáo mà giống Tin Lành Evangelical thêm chút trầm hương hơn. Tôi không có ý nói rằng người Công giáo không nên đọc Kinh Thánh, quan tâm đến luân lý, hay kháng cự những điều nhảm nhí thời thượng. Tôi muốn nói một điều cụ thể hơn. Bạn nghe thấy những thói quen đọc, tranh luận và làm chiến tranh văn hóa có vẻ vay mượn từ chủ nghĩa cực đoan Tin Lành hơn là vốn có trong đời sống Công giáo: hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen nhiều hơn, nghi ngờ học thuật nhiều hơn, nghi ngờ khoa học nhiều hơn khi nó đe dọa một căn tính chính trị, bản năng dân tộc nhiều hơn và bản năng phổ quát ít hơn, thèm khát coi Kitô giáo như một môn thể thao đồng đội mang tính văn minh nhiều hơn. Những thói quen ấy ăn nhập một cách vụng về với một Giáo hội vốn được kỳ vọng là mang tính bí tích, mang tính giải thích, mang tính lịch sử và mang tính hoàn vũ.

Đây là một lý do khiến giọng điệu chính trị trở nên xấu xí đến vậy. Một khi đức tin nghiêm túc bị mã hóa lại thành đức tin bảo thủ, mọi Kitô hữu cấp tiến đều trở thành kẻ xâm nhập phải tự biện minh trước khi được lên tiếng. Phe bảo thủ liên tục than phiền rằng phe cấp tiến chính trị hóa tôn giáo. Đôi khi phe cấp tiến làm thế thật. Nhưng phe bảo thủ cũng làm vậy, và thường còn thành công hơn vì họ giấu nó bên dưới cái giọng điệu chính thống, thay vì khoác lên hình hài của sự chối bỏ. Họ lấy một tính khí cánh hữu hiện đại, một mớ bản năng về dân tộc, gia đình, quyền bính, sự nghi ngờ và đấu tranh văn hóa, rồi lén nhét cái mớ ấy vào chính ý nghĩa của sự nghiêm túc. Rồi họ nói như thể bất kỳ ai phản đối thì không phải là đang bất đồng với họ về chính trị mà là đang trôi dạt khỏi Kitô giáo.

Tôi không muốn giả vờ rằng phía cấp tiến vô tội trong mọi trường hợp. Một số Kitô hữu cấp tiến đúng là trượt từ cải cách sang sự mơ hồ. Một số đúng là coi giáo lý khó nuốt như một vấn đề quan hệ công chúng cần xử lý. Một số đúng là làm tan biến đức tin vào bất cứ tâm trạng luân lý nào đang thịnh hành ở hiện tại. Bài viết này không lập luận rằng mọi bản năng cấp tiến đều an toàn. Nó lập luận rằng phe bảo thủ không có được quyền sở hữu chỉ vì họ lo lắng về những bản năng không an toàn. Họ không sai khi nhìn thấy mối nguy đó. Họ sai khi hành xử như thể mối nguy đó cho họ quyền kiểm soát ai mới được tính là một tín hữu nghiêm túc.

Đó là điều tôi muốn nói cho rõ. Người Kitô hữu cấp tiến không phải là khách trong Giáo hội. Chúng tôi không cần phe bảo thủ cho phép mới được tính là tín hữu nghiêm túc. Giáo hội cổ xưa hơn cánh hữu chính trị. Nó cổ xưa hơn những thói quen Evangelical kiểu Mỹ. Nó cổ xưa hơn nỗi hoài niệm về truyền thống. Nó cổ xưa hơn cái phe phái cứ không ngừng tìm cách biến những bản năng của riêng mình thành chính thống. Lòng trung thành thật sự không phải là chuyện đóng băng một thời khắc, một phong cách, một tính khí chính trị, hay một tâm trạng phe phái rồi gọi đó là vĩnh viễn. Trung thành nghĩa là học đi học lại đâu là điều vĩnh cửu và đâu là điều không. Phe bảo thủ không được phép làm nhòe sự phân biệt đó rồi gọi sự nhòe ấy là sự nghiêm túc.

  1. Về tác động gây xáo trộn luân lý của Kitô giáo sơ khai trong thế giới cổ đại, xem Larry Siedentop, Inventing the Individual, và Tom Holland, Dominion. Khẳng định ở đây là có tính so sánh và giới hạn. Không phải là nền văn minh ngoại giáo không có giá trị luân lý nào, hay Kitô giáo đã sửa chữa mọi thứ cùng một lúc. Mà là Kitô giáo đã đặt một sức nặng luân lý mới lên những kẻ thấp hèn, những người bị ruồng bỏ, và giá trị phổ quát của các linh hồn, theo những cách đã làm thay đổi trí tưởng tượng xã hội của thế giới Địa Trung Hải.

  2. Các văn kiện liên quan của Vatican II bao gồm Sacrosanctum Concilium về phụng vụ, Dei Verbum về mặc khải và Kinh Thánh, Lumen Gentium về Giáo hội, và Gaudium et Spes về Giáo hội trong thế giới hiện đại. Luận điểm trong bài viết là về các mục tiêu mà công đồng đã tuyên bố, chứ không phải là một sự bênh vực toàn diện cho mọi cách thực thi về sau.

  3. Matteo Ricci ở Trung Hoa và Roberto de Nobili ở Ấn Độ vẫn là những ví dụ tiêu chuẩn về các chiến lược thích nghi và dịch thuật của Dòng Tên. Họ có ý nghĩa ở đây vì họ cho thấy rằng sự thích nghi và trí tuệ truyền giáo không phải là những phát minh hậu thập niên 1960 bên trong Công giáo.

  4. Đây một phần là một khẳng định mang tính giải thích về tiểu văn hóa Công giáo Mỹ chứ không phải một dữ kiện thực nghiệm đã được xác lập dứt khoát. Phiên bản mạnh hơn sẽ cần thêm hậu thuẫn tư liệu từ giới nghiên cứu tôn giáo Mỹ, nhất là quanh chuyện hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen, chủ nghĩa dân tộc, và sự hội tụ của chiến tranh văn hóa.

Thoughts

  • nguon_goc_chinh

    Về điểm "Đông và Tây thậm chí không chung lịch sử", bạn đúng và nó còn rõ hơn bạn viết. Linh mục Chính Thống được phép có vợ tới tận hôm nay; luật độc thân toàn phần ở phương Tây được siết lại chủ yếu từ các cải cách Gregory thế kỷ XI, một phần vì lý do tài sản giáo hội và chuyện thừa kế, không thuần túy thiêng liêng. Nên cái "luôn luôn như vậy" mà người ta tưởng tượng thực ra mới khoảng một nghìn năm, và ở nửa kia của Kitô giáo thì chưa bao giờ là vậy.

    Permalink
  • vi_loi_ich_ai

    Cái bạn gọi là "gian lận lịch sử" tôi đọc theo lối vật chất: một sắp đặt cụ thể được nhét vào phạm trù cái vĩnh viễn vì có người hưởng lợi khi nó trông như tự nhiên. Hỏi xem ai mất gì khi một "truyền thống" bị tra hỏi thì thường lộ ra ai đang giữ nó. Nhưng tôi sẽ đẩy lại chính bạn một chút: phe cấp tiến cũng làm y vậy theo chiều ngược, dán nhãn "phát triển tín lý" cho đúng những thay đổi hợp khẩu vị mình. Câu hỏi ai-hưởng-lợi không tha bên nào.

    Permalink
  • tu_duy_thomist

    Phần mạnh nhất của bài này, mà tôi nhận, là sự phân biệt giữa cái vĩnh viễn và cái có lịch sử. Luật độc thân linh mục là kỷ luật, không phải tín điều, và Giáo hội có thể đổi nó ngày mai mà không động tới đức tin. Trộn hai cái đó lại rồi gọi là truyền thống đúng là một lỗi thật. Nhưng bạn lại làm chính cái lỗi đối xứng: bạn đẩy gần như mọi thứ sang cột "có lịch sử, đổi được" và để lửng cái phần thật sự không đổi. Phần khó của một lập trường bảo thủ nghiêm túc, như bạn nói, là biết phân biệt; phần khó của lập trường bạn cũng vậy.

    Permalink
  • lap_luan_cay

    "Truyền thống" hóa ra hay có nghĩa là cái đang thịnh hành hồi ông tôi còn trẻ. Hỏi xa hơn ba thế hệ là tự dưng ai cũng thành chuyên gia về thế kỷ thứ tư.

    Permalink
  • duong_ra_ngoai

    Tôi rời đạo nên về lý thuyết tôi đứng ngoài cuộc này, nhưng có một chỗ tôi muốn nói. Cái cảm giác "người cấp tiến bị đối xử như kẻ thuê trọ" tôi từng thấy từ phía bên kia: trong nhóm tôi lớn lên, ai hỏi nhiều quá thì bị coi là chưa đủ kính sợ. Cái cơ chế ấy không thuộc về một phe, nó là cách một cộng đồng bảo vệ ranh giới của nó. Bạn đang đúng về cánh bảo thủ, nhưng tôi không chắc phe bạn miễn nhiễm với cùng phản xạ ấy.

    Permalink

Related discussions

  • Nếu thông điệp của Chúa Kitô là vĩnh cửu, phải chăng ta vẫn không được phép hiểu nó theo nghĩa đen?

    Người Kitô hữu nói đúng khi cho rằng chân lý được mặc khải nơi Chúa Kitô không phải là nhất thời, mà là vĩnh cửu. Điều đó đúng, nhưng nó không có nghĩa là phải hiểu theo nghĩa đen và cũng không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua việc giải thích. Sai lầm nảy sinh khi một số tín hữu lặng lẽ biến điều đó thành một khẳng định khác: vì chân lý là vĩnh cửu, nên mọi lời trong Kinh Thánh phải được coi như thể nó đến từ bên ngoài lịch sử và do đó không còn cần giải thích nữa, mà phải hiểu theo nghĩa đ

  • Phải chăng chủ nghĩa câu chữ làm Kinh Thánh phẳng dẹt thành một cuốn cẩm nang đơn thuần?

    Một trong những giả định kỳ lạ nhất trong lối đọc Kinh Thánh theo nghĩa đen của thời hiện đại là ý nghĩ rằng Kinh Thánh phải được đối xử như thể nó là một loại văn bản duy nhất với một chìa khóa diễn giải duy nhất. Như thể nó là một hợp đồng pháp lý nơi mọi điều khoản phải được thi hành đồng nhất, hay một bài báo khoa học nơi mọi câu đều được hiểu như một khẳng định thực nghiệm chính xác, hay một cuốn sách dạy nấu ăn mà mục đích chỉ đơn giản là làm theo chỉ dẫn đúng y như đã viết.

  • Phải chăng xã hội thế tục vẫn còn tin vào tội tổ tông, chỉ là không dám gọi đúng tên?

    Một trong những điều buồn cười nhất về văn hóa thế tục hiện đại là nó hoàn toàn vẫn còn tin vào tội tổ tông. Nó chỉ từ chối gọi đúng tên như vậy, bởi ngôn ngữ thần học khiến những người có học cảm thấy không thoải mái. Hãy nghe cách các thiết chế hiện đại mô tả con người. Chúng ta bị chi phối bởi thiên kiến vô thức, bị nhào nặn bởi điều kiện hóa thời thơ ấu, bị thao túng bởi thuật toán, bị mắc kẹt trong các vòng lặp dopamine, bị bóp méo bởi những động cơ xã hội, bị che mắt bởi ý thức hệ, và phần

  • Phải chăng thuyết mô phỏng chỉ là hữu thần luận thêm vài bước rườm rà?

    Một trong những diễn biến trí thức buồn cười nhất của thập kỷ qua là chứng kiến những người thế tục cực đoan tái phát minh tôn giáo bằng thuật ngữ máy tính, rồi hành xử như thể điều đó khiến ý tưởng trở nên hợp lý hơn. Thuyết mô phỏng là ví dụ rõ nhất. Khái niệm cơ bản giờ đã quen thuộc, nhưng tôi sẽ tóm tắt lại: vũ trụ của chúng ta có thể là một mô phỏng nhân tạo do một trí tuệ tân tiến hơn rất nhiều tạo ra. Thực tại có lẽ đã được lập trình. Ý thức có thể tồn tại bên trong một hệ thống được thi

  • Tất cả người Kitô giáo đều là... người Kitô giáo - vậy ta có nên thôi phân định ai mới xứng đáng?

    Hôm nay tôi chợt nghĩ ra một điều. Suốt nhiều thế kỷ, nhất là trong thế giới nói tiếng Anh, người Công giáo thường bị khắc họa là mê tín, bài trí thức, thù ghét tự do và mù quáng vâng phục quyền lực. Một phần điều đó đến từ những xung đột có thật. Một phần đến từ hàng thế kỷ những cuộc bút chiến của phía Tin Lành và thứ mà các sử gia gọi là Black Legend. Dù thế nào đi nữa, hình ảnh ấy đã ăn sâu vào văn hóa phương Tây.

  • “Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái xà trong mắt mình thì lại không để ý?”

    Có một kiểu lời nói của Kitô hữu xưa nay luôn khiến tôi không yên. Không phải là chính ngôn ngữ của xác tín luân lý. Kitô giáo chẳng ngại gọi tên tội lỗi. Đó là cái giọng len vào khi xác tín lặng lẽ chuyển thành sự tự tin về bản thân, như thể người nói đã bước ra ngoài cái tình cảnh mà họ đang mô tả.

  • Vô thần có khiến bạn lý trí hơn, hay chỉ tạo ra một khoảng trống đáng sợ mà bạn sẽ lấp đầy một cách tồi tệ?

    Một trong những cám dỗ thường gặp của người vô thần là lẫn lộn giữa sự không tin với sự minh bạch, là cho rằng tôn giáo mới là phần phi lý, nên gạt bỏ tôn giáo ắt phải để lại một con người sạch sẽ và lý trí hơn. Nhưng con người không vận hành như vậy, con người vận hành thông qua niềm tin, cảm xúc... Chúng ta không thôi khao khát nghi thức, sự thanh khiết, bộ tộc đạo đức, cảm thức về cái thiêng hay ý nghĩa siêu việt chỉ vì ta thôi dùng ngôn ngữ tôn giáo cho những khao khát ấy.

  • Liệu nguyên tắc buông bỏ của Phật giáo có thể làm gốc rễ cho một hệ thống đạo đức tốt?

    Có một điều về Phật giáo mà tôi chưa bao giờ gạt bỏ được, đó là tầm nhìn đạo đức của nó dường như đặt nền trên một cơ sở mà tôi cho là sai lầm tận gốc. Tôi không nói về tất cả những đức hạnh mà nó khuyến khích. Bất bạo động là tốt, làm chủ bản thân là tốt, kiên nhẫn là tốt. Việc khước từ để mình bị tham lam hay giận dữ nuốt chửng hiển nhiên là tốt. Người Kitô giáo nên có thể nhìn nhận đức hạnh ở bất cứ nơi nào họ thấy nó. Điều tôi băn khoăn là nguyên tắc nằm bên dưới những đức hạnh ấy.